|
Gió đồng se sắt (2/2)
Cô Chung ốm, người gầy dộc như que củi. Đi khám hết viện này viện kia không khỏi. Bác sĩ kết luận cô bị suy nhược thần kinh nặng do không ngủ được.
Hễ cứ chợp mắt là thấy máu khiến cô la hét vùng dậy khóc nức lên: "Tại tôi trót làm điều ác nên Trời Phật phạt". Cô sang năn nỉ Cụ Đồ làm lễ cúng giải hạn. Cụ Đồ suy nghĩ rất lung rồi bảo: "Nhà Chung tự kỷ ám thị. Ta phải chiều, may ra...". Lễ giải hạn được bày, Cụ Đồ chưa đọc hết bài văn tế thì dân quân xã ập vào, giải đi. Đêm mưa phùn gió bấc căm căm, ông Chủ tịch bắt Cụ Đồ ngồi giữa sân, nắm râu cụ, cười sằng sặc: "Cúng xem có đổ được trụ sở hay không!". Gần sáng thì Cụ Đồ đổ. Dân quân khiêng cụ về trả cho gia đình. Gần một tháng trời Cụ Đồ chỉ nằm trân trân nhìn trần nhà, trước lúc chết chỉ nấc lên một tiếng, mắt vẫn mở trừng trừng. Đám ma Cụ Đồ to nhất làng Bùi. Chú Tình khóc không thành tiếng; truớc mộ, chú cắn môi hứa trong nước mắt sẽ đưa những kẻ giết người ra trước vành móng ngựa...
- Sao con khóc thế? Trời ơi, con tôi mệt mỏi quá đây mà... Thôi, để đấy mẹ làm. Ốm thì chết!
Tôi bơ thờ để mẹ dìu đến giường, đắp chăn kín mít. Thời quá vãng đau buồn vẫn không buông tha tôi...
Nhan nhãn trên các bức tường kho, đền chùa, miếu mạo và oang oang trên loa phóng thanh là câu vè của ông Chủ tịch:
"Quê ta đất chật người đông Ai đi Sông Bé, Lâm Đồng thì đi."
Ai muốn đi? Không, không ai muốn bỏ quê hương bản quán, mồ mả ông bà mà đi cả. Xã phải điểm đầu. Chú Tình là số một. Lý do không chối cãi vào đâu được: Nợ đọng quá nhiều. Xã sẽ xoá nợ cho những người ra đi. Nhưng cái chính chú Tình là đảng viên phải gương mẫu chấp hành chủ trương. Con cá kình một thời vùng vẫy sóng nước Tiên Sa, đánh chìm bao tàu giặc, giờ lại không thoát khỏi những mắt lưới bủa vây ở chính quê mình. "Không, đất quê ta không chật, người quê ta chưa đông, chỉ có bụng dạ của một số kẻ vô lương chật hẹp!" - Chú Tình gào lên trong buổi tiễn đưa. Con Én ôm em khóc như ri, chới với gọi qua thành xe: "Cậu Thưởng ơi... Mai em lại về với cậu!...". Chỉ có thím Tình dường như vô cảm, vẫn ngửa cổ lên trời: "Cá cá...".
Tôi sốt. Sốt thật rồi. Người hâm hấp nóng. Đầu ong ong váng vất. Trong cơn mê sảng chập chờn tôi nghe loáng thoáng có tiếng mẹ tôi, tiếng chị tôi và những đứa trẻ. Tôi thấy tôi đang lang thang dọc bờ biển xanh cát cháy tìm mộ cha tôi. Cha tôi đâu không thấy? Tôi thấy mình lặn lội trên những nẻo đường cao nguyên đầy bụi đỏ, nắng lửa, gió Lào tìm những người thân quen nhưng vô vọng. Đúng lúc tôi cảm thấy rã rời trong cuộc kiếm tìm kỷ niệm, kiếm tìm tình yêu cho chính mình thì vẳng bên tai tôi có tiếng nói quen quen và mắt mờ nhoè hình ảnh. Chú Tình đây. Vẫn khuôn mặt chữ điền và đôi mắt sáng, nheo nheo nhìn tôi cười:
- Thế nào, yếu lính thế?
Én đây ư? Tôi không nhận ra em nếu không nhờ đôi mắt trong veo đã đóng ấn vào ký ức tôi. Khuôn mặt em không còn nét võ vàng thời đói kém, mà đẹp, đẹp thuần hậu gái quê nhưng rạng ngời tri thức. Mười mấy năm bươn chải trong dòng đời tấp nập, tôi đã qua mấy cuộc tình. Môi hồng Líp-ai, môi đen Hàn Quốc... đủ cả. Vậy mà nhạt. Mục tiêu kiếm tìm tưởng chỉ là ảo ảnh, giờ hiển hiện trước mắt tôi.
- Cậu... Em...
Bàn tay ấm mềm đặt lên trán tôi. Tôi muốn vùng dậy hét lên một tiếng nhưng đầu nặng chìm chìm, không ngóc lên được, đành nằm im mấp máy môi:
Một vốc thuốc đắng ngét vỗ vào cái miệng khô khốc. Tôi rơi vào cảm giác li bì, mộng mị. Lõm bõm bên tai là những lời đối thoại giữa mẹ, Én và chú Tình...
- Thím Tình làm sao mà?...
iếng nấc bật ra tức thì từ miệng Én:
- Thảm lắm bà ơi!... Vào Tây Nguyên, bệnh mẹ con đỡ dần, rồi khỏi hẳn. Ai ngờ... Hôm ấy có một đoàn khách đến tham quan trang trại nhà con. Bố con vừa giới thiệu xong, mẹ con lên cơn ngay tức khắc.
Chập chờn. Nức nở. Giọng Én, giọng chú Tình... một chuỗi miên man...
Người đàn bà tóc tai rũ rượi, lúc bò, lúc lết như con thằn lằn len lỏi qua gai góc bám sát theo đoàn người lạ mặt. Những cái chức sợ lắm! Những cái chức ghê lắm! Họ làm gì thế kia? Họ xăm xoi từng gốc cà phê. Họ lội cả vào ruộng lúa. Không! Không! Không được phá! Công lao mười mấy năm trời, mồ hôi nước mắt của nhà tôi! Mười mấy hộ vào đây sốt rét, đói ăn đã bỏ về hết, chỉ còn nhà tôi khiêng đá, phát cây, đào ao bám trụ. Mình ơi, đừng cho họ xem. Họ đến để phá đấy. Đừng, đừng cho họ ra chuồng lợn!... Đừng, đừng cho họ ra hồ cá! Trời ơi! Biết ngay mà. Chết rồi mình ơi!... Cái hồ lềnh bềnh cá chết. Nồi cháo cá tanh rợn thuốc sâu. Khu ruộng lúa trắng lốp phất phơ không uốn câu. Con lợn nhép bị dồn đuổi đến cùng... Trốn đi! Trốn đi! Họ đến đấy! Biết ngay mà! Trời ơi! Nhà tôi có làm hại ai đâu mà các người đang tâm ném thuốc sâu xuống hồ nhà tôi? Cứu! Cứu! Cứu! Ô, ai bịt mồm tôi thế này? Cái chai bập bềnh. Bập bềnh giữa ao. Bơi. Nhà tôi còn nợ bà con làng Bùi tám trăm năm mươi bát gạo. Bơi. Nhà tôi còn nợ làng Bùi mấy chục rổ khoai. Én ơi! Đồng ơi! Mình ơi! Còn sống trên đời phải nhớ cái ơn. Cố lên! Mấy sải nữa thôi. Hụp. Lặn. Chới với. Rướn tới. Được rồi! Chìm. Chìm. Chìm... Đàn cá táo tác, lượn vòng. Những mắt cá tròn xoe...
Mình ơi. Mình đâu rồi? Sao bỏ nhà cửa vắng tanh thế này? Đã dặn làm cơm đãi khách rồi mà? Nháo nhào. Cuống cuồng. Vườn cây vắng ngắt, u i tiếng ong. Mặt hồ sủi tăm. Ùm! Một hơi. Hai hơi. Giời ơi! Các ông giết vợ tôi rồi! Ai, ai ném cái vỏ chai nước khoáng xuống hồ? A.a.a.a.i? Choét, choét, choét! Đàn chim giật mình kinh hãi trên ngọn cây muồng. Người đàn ông đặt vợ xuống vạt cỏ cạnh hồ, rũ người như tàu lá héo. Lẩy bẩy vuốt mắt. Đôi mắt trợn trừng, u ám. Đừng nhìn đời như thế mình ơi!...
Trời ơi, mẹ! Mẹ làm sao thế này? Bóng áo dài trắng nhào vào. Gào thét. Ngất lịm... Tĩnh tâm, nhìn. Thi thể đẫm đụa nước, tay còn bóp chặt vỏ chai nước khoáng, mắt mở tròn kinh hãi nhìn đoàn người lạ mặt vây quanh ngơ ngáo... Cô gái chợt hiểu, reo to: Mẹ, mẹ ơi, mẹ tỉnh lại đi! Vườn nhà mình vẫn nguyên. Hồ nhà mình vẫn nguyên. Không ai phá cả. Họ chỉ vô tình mà, mẹ ơi! Lời diệu kỳ. Đôi mắt người đàn bà ánh lên tia nhìn ấm áp rồi từ từ khép ngủ, miệng phảng phất nét cười...
Thôi, thím đã chả may, chú cũng nên tĩnh lại. Đau buồn thím cũng chẳng sống lại được... Vâng, nhà em mất, em đau một. Nhưng chỉ vì vài thằng chó má mà nhà em nhìn đời như thế, em đau mười... Thôi mà, chú. Cái thời ấy đã qua rồi...
Tôi thấy cơ thể mình nhẹ dần, nhẹ dần rồi bay bổng trên cánh đồng tuổi thơ. Cậu học trò ngật ngưỡng trên lưng trâu đọc sách, nhưng hễ con trâu mộng no tròn như sim chín dạng chân, cong đuôi là vội tụt xuống, vơ một cọng rạ cắm ngay vào đóng phân nóng hổi xí phần cho Én. Con bé láng giềng dụt đầu dụt cổ gánh đôi quang dài lê thê trên bờ mạ xanh. Cái áo gụ rách vai bị gió thổi phất phơ, phất phơ...
Chị ạ, lần này bố con em về, trước là thăm xóm làng, sau là để trả cái ơn ngày xưa... Thôi mà, lúc hoạn nạn có nhau, chẳng ai nhớ đâu. Không, bà con không nhớ nhưng nhà em phải nhớ. Tám trăm năm mươi bát gạo. Mấy chục rổ khoai... Đã bảo không ai nhớ đâu mà. Bây giờ chú có trả cũng chẳng ai nhận. Vâng, em biết thế nên mua biếu mỗi người một túi tám thơm ăn Tết, chứ tình nghĩa thì trả bao giờ cho hết... Thế còn nợ xã, chú tính thế nào? Em đã mang trả nhưng uỷ ban không nhận. Em đã xin đưa hết vào quỹ đền ơn đáp nghĩa. Chú làm thế là phải. Vâng, Cụ Đồ ngày xưa vẫn nói “Làm ơn không nên nhớ, nợ ơn chớ nên quên.”...
***
Mùi cơm thơm lựng xộc vào mũi tôi.
- Cậu Xưởng mở mắt, bà ơi! - Giọng thằng cháu đích tôn ngọng nghịu. Nhà lại ríu rít tiếng cười.
- Gớm, cậu sốt xình xịch cả ngày cả đêm, làm chị lo lo là. Để chị hái lá đun nước cậu xông.
- Cậu Xưởng còm, bà nhể.
- Ờ, cậu mày mười mấy năm cơm thiên hạ...
Mâm cơm tất niên ú hụ mỡ màng. Tôi ngảnh ngót. Mẹ xót xa:
- Cậu mày mới sốt dậy, đắng miệng...
Chị Cả đon đả:
- Cậu thích ăn gì chị mua? À, nhớ rồi, ngày xưa cậu thích nhất món chân giò chấm muối.
Chị Hai đay lại:
- Không, cậu Thưởng thích nhất món cá chòi luộc. Nhà chị mới tát ao, có con cá hơn cân, để tối chị mang sang. Hay là... cậu thích ăn còng gà? Ngày xưa mỗi độ giỗ cha, thịt một con gà, có hai cái còng ba chị em tranh nhau khóc mấy ngày là gì...
Chuyện. Thời đói kém cái gì chả thèm. Ơ hay, thế anh thích cái gì? Tôi nói cái thích của mình ra, mẹ cười chảy nước mắt nước mũi. Cơ khổ, thèm gì không thèm lại đi thèm cái thứ lăn lóc đầy gầm bàn xó bếp, cho ăn mày còn chê nặng. Mẹ nói làm sao ấy chứ, bây giờ ở các bữa tiệc món khoai tây nấu cà-ry là nhất đấy. Ơ thế à. Vậy mà ngày xưa tôi nịnh mãi "ăn cơm béo dài, ăn khoai béo tròn" anh còn hấm hứ. Anh tuyên bố học thật giỏi để khỏi ăn khoai kia mà? Thì, mẹ tính, khoai, khoai, khoai, lúc nào cũng khoai. Cơm khoai. Canh khoai. Bánh khoai. Ròng rã mấy tháng trời, ai chẳng sợ. Ờ ờ, nhờ vậy mà qua được kỳ giáp hạt đấy...
Mùng 4 Tết mẹ con đã quang gánh ra đồng. Thích ăn nên kỳ nèo chứ đang kỳ khoai xuống củ, theo lịch phải qua tết Thượng Nguyên mới dỡ. Gió đồng đặc ngọt như có thể sắn ra thành từng vẩng. Cánh đồng mới cấy, hôm tôi về còn tía hơ tía hất, phải đưa nước vào dầm cho khỏi quắt rễ, vậy mà xuân hừng có mấy ngày đã lúp búp xanh. Mẹ đi trước bỏm bẻm nhai trầu. Tôi đi sau vung vẩy tay chân, ngửa mặt hít căng mùi lúa thơm non mâng mấng, ước ao: "Lạnh thêm chút nữa thì thích". Mẹ mắng yêu: "Giày da áo dạ thế kia, lạnh nó chui vào đâu được".
Cứ tưởng gò khoai chỉ có hai mẹ con, ngờ đâu Én đã đợi sẵn rồi. Ngày xưa, những mùa dỡ khoai, Én nhỏ thó như cái kẹo, mang cái giỏ to tổ bố, cái cuốc cao hơn đầu người đi mót khoai. Còn tôi, những ngày đó thực sự là ngày hội. Tôi được thoả thuê chạy nhảy để bắt chuột đồng. Sau vụ mùa, những con chuột thoát khỏi sự truy đuổi của lũ trẻ chăn trâu thường chạy lên ruộng khoai tị nạn. Khoai đầy ra đấy, chuột chỉ cần cào nhẹ sườn luống là có thể ung dung, trễ nải gặm vài nhát kiểu con nhà giàu chán thịt, rồi bỏ mặc củ khoai hở nắng xanh lét màu chàm. Thế nên mới ví "béo nuỗn nuột như chuột ruộng khoai.". Sướng quá hoá nhờn. Những con chuột cứ nhởn nhơ, thí tha thí thó trước cửa hang nông choẹt đã kích thích tính trừng phạt của tôi. Khi tôi mải mê trò săn đuổi thì Én lẽo đẽo bám sau mẹ tôi xấp xoải bổ cuốc tìm khoai sót. Không hiểu sao mẹ hay để sót, mà lại toàn khoai “gộc” mới lạ. Những củ khoai to như vốc tay bị lưỡi cuốc của Én xả làm đôi ứ nhựa, lem nhem đất cát. Mẹ xuýt xoa nhìn những củ khoai bị sát như bị lưỡi cuốc bập vào ngón chân mình. Thế rồi mẹ bảo Én: "Thôi, cháu đừng xới nữa, mất công. Đưa giỏ đây". Mẹ trút đầy giỏ khoai cho Én rồi bảo: "Mang về luộc cho em ăn mau, kẻo nó khóc hết hơi!". Én lí nhí "Cháu xin" rồi lệch người tha cái giỏ ra về. Tôi đứng nhìn theo cái dáng con cón, lun cun trên đồng, bỗng chán trò bắt chuột. Tôi vớ cuốc mót sau lưng mẹ. Cuốc cuốc, xới xới mỏi nhừ cả cánh tay mà tuyệt nhiên không tìm được củ khoai nào, dù là những củ khoai "bi"...
- Ngày đó cháu đâu biết bà cố tình bỏ khoai sót cho cháu - Én nói trong lúc thoăn thoắt cắt dây khoai. Mẹ cười cười, ngượng nghịu.
- Khi lớn lên cháu cứ nghĩ mãi. Quê mình khốn khó thật nhưng cũng tình nghĩa thật. Giá đừng có những kẻ khốn nạn kia thì...
- Ôi dào, những đứa sống bẩn đến chó cũng chê thời nào chả có, ở đâu chẳng có. Nhưng nhân nào quả nấy. Như lão Truy đấy. Từ ngày đi tù về giống nửa người nửa ngợm, gặp ai cũng cum cúp như chó cụp đuôi. Trời Phật có mắt cả.
- Mẹ thì lúc nào cũng trông vào Trời với Phật. Trời Phật mà có mắt thì đâu đến nỗi ông con chết oan chết ức, thím Tình phải sống khổ sống nhục rồi chết tức chết tưởi - Tôi bỗng nổi cáu. Chẳng ngờ mẹ tôi không mắng lại tôi mà lại thẫn thờ cam chịu:
- Chứ tôi còn biết trông vào ai bây giờ? Trông vào con học hành tử tế, có chút chữ nghĩa thì lại bỏ làng đi. Tôi tưởng anh bằng nọ bằng kia thì thấu hiểu lẽ đời, ai dè câu “con sâu bỏ rầu nồi canh” anh cũng chưa tường.
Tôi nín bặt trước lời trách cứ. Trước mẹ, tôi vẫn chỉ là cậu học trò lớn xác. Cúi mặt xuống luống khoai, tôi miên man bới tìm kỷ niệm. Mười đầu ngón tay bật máu, xon xót đất đồng. Giật mình nghe tiếng cuốc xới lại sau lưng. Tiếng mẹ bùi ngùi trong gió đồng se sắt: Sao bỏ sót nhiều thế, con ơi?
Phần 1
Tây Nguyên tháng 4 năm 2002
(Trích tập truyện "Vết thương thành thị" - tác giả Đỗ Tiến Thụy, NXB Trẻ ấn hành)
|