Truyện ngắn

Thứ bảy, 26/09/2009, 07:48
 

Họ nhà Vòn (2/2)

Đỗ Tiến Thụy

Cứ tưởng bệnh Muôn vô phương cứu chữa. May nhờ có ông lang Mường với bài thuốc bí truyền được vời tới khám bệnh cho Muôn.

Ông lang gọi riêng bà Diên ra chỗ vắng nói nhỏ: "Bệnh cô nhà ăn sâu quá, cụt hết cả buồng trứng rồi! Gia đình đồng ý tôi sẽ chữa, nhưng cô nhà không thể sinh nở được". Bà tái mặt nhưng cắn môi gạt nước mắt gật đầu. Còn người còn của, cốt Muôn sống được là may. Nhưng Vòn thì không nghĩ thế. Đàn bà là cái máy đẻ con. Không đẻ đái gì được nữa thì "thay nái", huống hồ nhà Vòn mấy đời độc đinh... Mẹ con Vòn nguây nguẩy không cho Muôn về lại. Nhà Muôn thì coi con gái đã đi lấy chồng, sống nhà người, chết là ma nhà người, nên thúc ép Muôn đi. Quay qua quẩn lại. Bà mẹ Vòn có vẻ xuôi xuôi. Nhưng Vòn thì mặt rắn câng như gỗ đá. Muôn cắn răng quỳ lạy chồng, nước mắt đầm đìa mà không lay chuyển được con người trơ tráo, đành khăn gói cúi mặt lầm lũi trở về nhà mẹ đẻ.

Mấy tháng sau, Muôn khe khẽ mở ngọn tre dấp cổng trở lại nhà chồng vào một đêm tối như bưng mắt. Bà mẹ chồng mù loà nằm trên giường tỉ ti khóc lóc gọi tên Muôn. Vòn nằm trên chiếc chõng tre bên cạnh rít qua kẽ răng: "U im đi cho tôi ngủ! U còn nhắc đến con đĩ ấy làm gì! Nó chết rồi!". Bà già lại khóc to hơn: "U con mình ác quá, Vòn ơi! Thế này thì u chết chắc bị chó ngao xé xác, bị bỏ vạc dầu, bị quỷ sứ lột da... Hay là để mai u sang nhà ông bà Diên thưa chuyện...". Vòn bật chồm người dậy. Dưới ngọn đèn dầu tù mù nhưng mặt Vòn trắng bệch đi. Hắn nghiến răng nói gằn trong họng: "U mà nói ra, tôi giết!" và sấn đến túm cổ bà già chét mạnh. Bà già sợ hãi ú ớ run lên.

Muôn lặng lẽ bước vào nhà. Hắn đứng chết trân như thân chuối dựng. Muôn nhìn hắn bình thản như nhìn một con vật yếu đuối. Bước đến nắm tay mẹ chồng, Muôn nói khẽ: "U ơi, con đến để lạy u... con đi...". Hắn giương dáo mắt nhìn Muôn, lập bập mãi mới hỏi được một câu tưởng chừng như hụt giọng: "Mày... đi đâu?". Muôn lột chiếc khăn để lộ mái đầu tóc đang mọc lại lơ thơ và nheo con mắt khinh khi nhìn chồng nói từng lời như rút ruột: "Tôi mà hê ra thì dơ cái mặt anh, cái mặt tôi và cả họ nhà tôi cũng chẳng đẹp đẽ gì! Tôi đi để rửa ô nhục trên cái thân tôi...". Muôn bụm miệng ngoắt người lao khỏi cửa, hút vào vườn cây cối um tùm. Tiếng côn trùng đang nỉ non chợt im bặt theo bước chân chạy trong đêm líu ríu. Tiếng chó sủa ran càn theo một vệt về hướng bến sông...

- Giá lúc đó tôi mà bạo như bây giờ thì cô Muôn không chết. - Lão Vòn nức nở. - Nhưng tôi sợ quá! Từ bé tới lớn tôi có dám ra khỏi nhà vào ban đêm đâu. Đến đi tiểu u tôi còn phải hốt cho một thúng tro đặt xuống gầm giường cơ mà! Hôm đó tôi đã chạy ra đến ngõ. Nhưng gối nó cứ nhũn xuống. Tôi chạy như ma đuổi trở lại nhà sập cửa đánh thình một cái, cẳng chân chưa kịp rút vào bị kẹt sưng mấy ngày liền... Sáng ra thì...

Đôi dép mo cau... Chiếc khăn vuông đen rơi lại trên bến đò... Bà Diên chạy dọc bờ sông gào khóc khản cả hơi... Trai làng lặn hụp mấy ngày đỏ kè cả mắt vẫn không mò được xác Muôn. Dân làng người thì xót xa cho kiếp hồng nhan bạc phận, trách mẹ con nhà Vòn ăn ở bất nhân thất đức. Kẻ bênh Vòn thì bĩu môi rỉa rói: Ôi dào, nứa trôi sông không dập thì gãy, gái bị chồng rãy không chứng nọ thì tật kia...

- Thôi được rồi! - Tôi cắt chuyện lão Vòn vì cảm thấy không chịu nổi nữa.- Rốt cục ông muốn nhờ tôi giúp việc gì?

Lão Vòn khóc hưng hức trong cổ họng một hồi lâu rồi lúng túng nói với tôi những lời đứt quãng. Lão bảo, lão hơn bảy chục tuổi rồi, đêm đêm nằm vắt tay lên trán nghĩ lại những việc mình làm trong đời thấy lòng cắn rứt không yên. Hễ cứ chợp mắt là lão lại thấy bà Muôn cái đầu trọc lóc ngoẹo cổ nhìn lão kêu rằng rét quá, rét quá! Lão ngước lên thành kính như con chiên trước cha xứ nhờ rửa tội:

- Cậu ạ, cậu là người có học, thành danh nhất họ. Tiếng nói của cậu quan trọng lắm, các cụ chắc sẽ nghe theo. Tháng tám này giỗ họ có bàn về việc quy lăng các cụ. Tôi nhờ cậu giúp cho một tiếng, đưa bà Muôn vào phần mộ của họ nhà mình! Có được vậy tôi mới nhẹ lòng...

Tưởng gì chứ chuyện đó tôi giúp được. Ngôi mộ đất nhỏ như thúng úp ngoài bến sông là do nhà cụ Diên đắp hồi xưa, dưới chỉ chôn có đôi dép và cái khăn vuông. Mùa lũ, ngôi mộ chìm nghỉm trong nước lạnh. Mùa khô, ngôi mộ bị lút giữa ngô đậu xạc xào heo hắt. Cả họ nhà tôi và họ nhà bà Muôn không ai thừa nhận bà là người của họ mình, vì thế quanh năm ngôi mộ nằm chơ vơ quạnh quẽ. Lạ một điều là ngôi mộ không hề mất. Ngày nhỏ tôi vẫn thấy có chân nhang cắm loe hoe trên ngôi mộ đó... Chuyện cũ mấy chục năm rồi, chắc các cụ nhà tôi sẽ không chấp nhách.

Nhưng tôi đã không giúp được lão Vòn. Trong những việc soạn thảo gia phả, kiến thiết nhà thờ... thì các cụ trong họ trọng tôi. Còn việc này, tôi là kẻ hậu sinh, vai vế trong họ là lớp dưới nên các cụ khăng khăng phản đối. Cái lý của các cụ là, chấp nhận đưa mộ bà Muôn về thì khác nào chấp nhận kẻ lăng loàn đĩ tã, bôi một vết nhơ vào dòng họ Trịnh thanh danh! Họ Nguyễn nhà bà Muôn thì không muốn có thêm một bà cô. Họ đánh tiếng rằng, đàn bà như mớ dưa, ngon khú gì là do tay người muối. Đã lấy chồng là hết trách nhiệm. Hết cách, tôi đành kể ra những lời sám hối của lão Vòn. Ông Cân, trưởng họ Trịnh nhà tôi sỉ bã thuốc lào đánh phụt, xì một cái rõ dài:

- Ôi dào! Tin mồm lão Vòn thì đổ thóc giống ra mà ăn. Lão là chúa hay dựng chuyện, anh không biết à?

Tôi buồn lắm, chẳng biết làm gì hơn là ngồi tần mần viết câu chuyện kể về thân phận một kiếp người. Hy vọng rằng khi bài báo in ra có thể thay đổi được tình hình. Bài viết được in. Tôi hí hửng đưa tờ báo về. Ngay tối hôm đó, ông Cân lù lù xuất hiện tại nhà tôi. Ông chẹp nước chè liên hồi, ý chừng khó nói. Mãi sau ông mới hiêng hiếng mắt nhìn tôi thở dài:

- Hỏng! Hỏng quá! Tưởng anh ăn học hơn người... Ai ngờ...

Tôi bảo:

- Cháu chỉ muốn minh oan cho bà Muôn...

- Giời ơi là giời! - Ông Cân rít qua kẽ răng - Anh làm thế khác nào đổ cứt vào nhà thờ họ. Chuyện bà Muôn tôi lại không biết hơn anh à?!

Ông phủi đít quần hầm hầm bỏ về. Tôi đã khốn khổ khốn nạn bởi những ánh mắt của người trong họ nhìn tôi những lần về quê sau đó.

May cho tôi. Giữa lúc tôi đang khổ sở ê chề thì một sự kiện làm thay đổi mọi chuyện. Một vị khách từ Hà Nội đáp xe về làng Bụa. Ông đến thẳng nhà ông Cân trưởng họ, trong tay là tờ báo có bài viết của tôi.

Ông khách ngồi kể giữa một vòng vây trẻ già họ Trịnh. Ông Cân len tới ngồi sát ông khách, cái nhíp hai đầu to tướng, một để nhổ râu, một để rút quai dép cao su, luôn nhíp nhíp trên cái cằm nhẵn thín, mắt lim dim, đầu gật gù nhè nhẹ. Bọn trẻ con há hốc mồm như nuốt lấy từng lời. Lão Vòn chọn cho mình một góc khuất sau cỗ phản, ngồi bó gối nghiêng tai. Khuôn mặt lão lúc cười lúc mếu, ngô nghê như con trẻ.

Ông khách tuổi ngoài tám mươi nhưng còn minh mẫn tráng kiện, rõ là người đã từng xuống biển lên rừng. Ông tên là Đào Bá Đoàn, nguyên chính trị viên của một đại đội trong đoàn quân tiến lên Tây Bắc. Trong cái đêm mưa phùn gió bấc căm căm, đại đội của ông được lệnh bí mật vượt sông Bùi. Đoàn quân qua sông êm thấm nếu như không có một người đàn bà lẽo đẽo bám theo sau. Nguyên tắc bảo mật thời chiến bắt buộc những người lính phải bắt trói kẻ lạ mặt mang theo để đảm bảo an toàn. Chính ông là người thẩm vấn kẻ lạ mặt trong căn hầm ở nơi tập kết. Cô gái ấy khai rằng, cả nhà cô mới bị giết trong trận càn nên muốn theo bộ đội trả thù. Nhìn vóc dáng ốm yếu của cô, ông đã khăng khăng từ chối. Cô gái khóc dữ quá. Ông buộc phải gửi cô sang đoàn dân công hoả tuyến. Tuyến chiến dịch ngày ấy lan truyền tin về một người đàn bà nhỏ thó, nhưng gánh hàng rất khoẻ, luôn đòi được ra tuyến trước. Một hôm, đang trên đường rút quân sau trận đánh, đơn vị lấm láp bã bời, chỉ mong nhanh đến nơi tập kết cho bộ đội nghỉ ngơi. Bỗng đội hình hành quân chùn lại, xôn xao. Ông lách hàng quân vượt lên. Một tù binh người Angiêri đang ôm đầu kêu khóc, máu chảy ướt đẫm kẽ ngón tay. Cạnh đó, một dân công đang bị bộ đội giữ lại. Một chiến sĩ hấp tấp chạy đến phân trần: "Báo cáo thủ trưởng, bọn tôi đang áp giải tù binh về tuyến sau thì chị này ở đâu lao ra, bất ngờ dùng đòn gánh phang tới tấp...". Người đàn bà ngước khuôn mặt ướt nhoè nhìn ông, khóc rấm rức. Ông sững người khi nhận ra chính cô gái đã gặp ở bến sông Bùi. Ông đứng ra bảo lãnh và gửi cô sang phục vụ ở trạm quân y dã chiến...

Nếu như gần cuối chiến dịch ông không bị thương thì có lẽ chuyện của bà Muôn mãi mãi lấp chìm trong quên lãng. Trong căn hầm ngập ngụa bùn đất mùa mưa gió Điện Biên, ông ngồi dựa vào lưng Muôn để nghe cô kể về hoàn cảnh của mình. Ông đã khóc. Khóc vì cơn đau đạn xé chưa thấm vào đâu so với nỗi đau nhân thế mà cô từng gánh chịu.

Chiến trường ngày càng ác liệt. Bệnh viện dã chiến ta ít, Tây nhiều. Những lính Tây "ba vạch" ngày đêm rên la thảm thiết. Trong lúc sa cơ thất thế, những tên lính lê dương như trở thành những con người khác, thảm hại, đáng thương, chẳng giống lúc chúng lăm lăm trong tay súng đạn quan thầy. Ngày nào Muôn cũng tất bật chạy hết hầm này sang hầm khác thay băng, đút cháo cho cả bộ đội lẫn tù binh. Và Muôn luôn ở bên ông lâu nhất...

- Thế ông lấy bà Muôn à? - Một thằng bé hóng hớt nãy giờ buột miệng. Ông Cân lừ mắt, mắng át đi:

- Ranh con. Hỗn!

Lão Vòn cúi xuống, cổ họng phát ra những tiếng hậm hừ. Chẳng biết lão rên hay lão xuyễn. Ông khách ngẫm ngợi hồi lâu, mắt cứ ứa nước ra. Ông ngửa bàn tay vuốt mắt rồi thẫn thờ:

- Được thế thì phúc cho tôi quá! Bệnh viện dã chiến dính bom... Tơi bời hết cả... Có còn gì đâu!...

*

Họ nhà tôi nhốn nháo cả lên. Ông Cân mặt mày phớn phở đến tìm tôi:

- Anh bổ sung ngay bà Muôn vào gia phả nhớ!

Tôi cặm cụi một ngày. Ông Cân móc kính xăm xoi một hồi, hạ giọng thầm thào:

- Anh viết thế còn ra thể thống gì nữa? Con cháu sau này nó đọc nó cười cho. Chỉ viết từ đoạn bà Muôn theo bộ đội thôi! Tôi đã quyết rồi, mai lập mộ bà Muôn.

Từ bé đến giờ tôi chưa thấy một nghi lễ nào trong họ tôi rùm beng đến thế. Thầy cúng làm lễ gọi hồn bà Muôn từ phương trời xa lắc về nhập vào sọ dừa, cành núc nác thay hài cốt để trong tiểu sành táng vào nơi cao ráo nhất, tên bà được khắc vào bia đá với những dòng trang trọng: Trịnh tộc- Mộ phần cụ Nguyễn Thị Muôn - Sinh năm 1934 - Thác năm 1954 - Liệt nữ hy sinh vì nước.... Tôi cắm nhang và thầm khấn:

- Mong bà hãy bỏ qua sự vô tâm của con cháu nhà chồng từ trước đến nay.

Lòng cảm thấy bớt áy náy đối với việc họ hàng, tôi chuẩn bị về Hà Nội. Vừa nổ máy xe thì ông Cân đùng đùng lao đến nhà, trợn mắt lên chửi bới:

- Mẹ cha quân mất dạy! Cả họ nhà nó ngu!

Tôi sững người chẳng hiểu mô tê, hỏi lại. Ông Cân mắng té tát:

- Anh không biết gì à? Sao anh thờ ơ thế? Các anh bây giờ chỉ chăm chắm về với vợ với con thôi, chẳng thiết ngó ngàng đến việc gia tộc nữa. Anh lên đồng Gào chống mắt lên mà xem. Cái thằng họ Nguyễn bên bà Muôn nó cũng lập mộ. Mẹ cha quân mất dạy! Cả họ nhà nó ngu!...

Tôi tất tả chạy lên đồng Gào. Ngôi mộ mới xây, vôi trắng lốp. Tấm bia cũng có những dòng không kém phần trang trọng: Nguyễn tộc- Mộ phần cụ Nguyễn Thị Muôn - Sinh năm 1934- Thác năm 1954- Liệt nữ hy sinh vì nước...

Tôi nhếch mép, trong đầu nảy ra một ý nghĩ chua chát: Bà Muôn sống bằng một cuộc đời đau rất thật, vậy mà chết lại bằng ba ngôi mộ giả! Nhưng tôi vội lắc đầu xua đi ý nghĩ hỗn hào. Thế này cũng được, càng tốt cho bà Muôn chứ sao. Mấy chục năm bà không ai thờ cúng, giờ bà đáng được thờ gấp đôi gấp ba. Sẵn bó nhang còn lại trên mộ, tôi đốt ba nén. Tôi chưa kịp quay về thì một toán thanh niên lộc ngộc, vẻ mặt hầm hầm, tay lăm lăm búa chim do ông Cân dẫn đầu lao lên đồng:

- Chúng mày phá cái mộ ấy cho ông! Mẹ cha quân mất dạy! Cả họ nhà nó ngu!...

Tôi cuống lên giang hai tay cản đoàn người hùng hổ lại. Ông Cân chỉ vào mặt tôi chửi văng cả bọt mép:

- Cái trán mày bóng tứng thế mà cũng ngu à! Ăn lắm vào, béo như chó hàng phở nên lú lấp rồi chứ gì? Nó xây mộ kiểu này là nó ám họ nhà mình. Nó gọi hồn bà Muôn về họ nhà nó rồi. Thế là họ nhà mày thừa mả, rồi sẽ ốm đau chết chóc. Họ nhà anh sẽ lụn bại, không ngóc đầu lên được, hiểu chưa? Phá! Phá hết cho ông!

Tôi hét lên một tiếng khiến cho bọn trẻ chùn tay:

- Không được làm càn! Người ta mà kiện thì cả họ mình đi tù. Rồi lại gây thù chuốc oán cho mà xem. Nhìn kìa!

Một toán thanh niên khác gậy gộc tua tủa do ông trưởng họ Nguyễn dẫn đầu đang lao rầm rập về phía chúng tôi. Cánh thanh niên bên này giơ cuốc lên thủ thế. Tôi đứng giữa hai phe bặm môi nghĩ cách dàn hoà. Hai đám thanh niên lưỡng lự, hết nhìn tôi rồi lại nhìn hai ông trưởng họ. Hai ông trưởng họ một cao lòng khòng, một lùn tịt, gườm gườm nhìn nhau bằng cặp mắt hai con trâu chọi. Tôi thấy trong ruột rối bời, chẳng biết nói với họ thế nào.

Giữa lúc đôi bên còn gằm ghè thì một thằng bé hộc tốc chạy lên đồng. Nó thở không ra hơi, giơ tay chỉ về phía bến sông:

- Cụ Vòn... Cụ...

Chả ai bảo ai, tất thảy đều quăng vũ khí lao theo thằng bé.

Bến sông vắng lặng. Gió buôn buốt lùa dọc mặt sông làm nổi lên những gợn sóng lăn tăn. Mưa phùn lay phay. Những chiếc lá ngô tím tái ướt át cứa vào mặt tôi thon thót.

Lão Vòn nằm thoi thóp nơi ngôi mộ giả bà cụ Diên đắp năm xưa. Chiếc cuốc nằm chỏng chơ ngay cạnh lão Vòn quần áo phong phanh, râu tóc lơ phơ ướt bết dính đầy đất cát. Ngôi mộ vừa bị lão phá tan tành. Chúng tôi vội vàng khiêng lão ra ngoài bãi ngô, đặt lên thảm cỏ, đốt một đống lửa to sơ cứu. Lão Vòn đã phát phiền, tay quờ quạng rón chuồn chuồn. Tôi cuống cuồng xoa điên dại vào khuôn ngực hom hem của lão.

Nhưng... muộn quá rồi! Lão đi mà mắt vẫn mở trừng trừng như cầu xin một điều gì đó. Mấy chục con người vừa nãy yêng hùng là thế, giờ len lén ngoảnh mặt. Tôi đặt cả bàn tay nóng ran lên đôi mắt lão Vòn, trong đầu thầm nói: Ông ơi, ông cứ thanh thản mà đi. Khối người còn giấu những điều khuất tất trong cuộc đời, nhưng có phải ai cũng đủ can đảm nói ra được như ông đâu?

Tôi mở bàn tay. Mắt lão Vòn đã khép. Khuôn mặt nhăn nhúm như chiếc lò xo của lão từ từ giãn nở, phảng phất một thứ ánh sáng...

   Hà Nội tháng 2/2004

Phần 1

(Trích tập truyện "Vết thương thành thị" - tác giả Đỗ Tiến Thụy, NXB Trẻ ấn hành)

 

Các bài khác:
 

Chụp ảnh với gấu

'Pokemon'

Ngày Tết

Thứ sáu 13

Ciao

Đổi

Tiếng nhạc phát ra từ ngôi nhà

Giáng sinh của nàng Rose

Bến Hồi Ngạn

Trăng đêm

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z