|
Hòn bi đá màu trắng
Gã đã trở về. Tựa vào mô đá, gã ngửa mặt hít nhẹ như muốn thu vào lòng hương rừng quen thuộc. Sinh ra từ đây, lớn lên cũng từ đây, sao như đang đặt chân đến một vùng đất lạ.
Gã cấu nhẹ vành tai. Mình vẫn tỉnh đấy chứ. Tám năm cải tạo, di lý đến hai nhà tù, giờ là người tự do mà sao vẫn chưa có được cảm giác quen thuộc.
Chân đạp phứa trên mặt đường lởm chởm đá mà chẳng cảm giác đau đớn. Ven rừng con thú nào vừa đi qua để lại dưới dấu chân những mầm cỏ gãy ứa nhựa hăng nồng. Chân núi xa những nhà sàn thưa thớt loang khói như sương. Vượt núi vài cây nữa sẽ về đến nhà. Gã bỗng ngần ngại. Có còn ai coi gã như một xác thối? Chẳng nghĩa lý gì. Được tha bổng nghĩa là được làm người bình thường. “Người bình thường”! Gã đang là người bình thường. Bầu trời, khí thở sao nhẹ nhõm đáng yêu. Gã thấy mình đang lướt đi trên những đèo dốc. Có tiếng phất gió trên cao, gã ngẩng nhìn. Đó là con chim ưng đã quen mồi gã ném. Những vuốt sắc co lại dưới bụng trông thật hiền lành. Sao nó không to lớn như một cái tàu bay, cõng gã lên trời cao ngắm nhìn mặt đất. Gã khum bàn tay như hai vỏ hến, che miệng, hú dài. Tiếng hú như đạn pháo nã vào vách núi làm lũ chim rừng giật mình bay loạn, chỉ con chim ưng vẫn lấc láo cặp mắt như thợ săn lão luyện. Ôi, thiên sứ tự do, một kẻ chuyên ăn bám nhưng chẳng bao giờ làm ta thấy phiền. Nhờ mi ta đã bền lòng chờ đợi. Mi kích thích ta khát bầu trời tự do, xua đi ý định tự chết luôn thường trực. Còn ta trả công mi bằng tự nguyện làm tên nô lệ mẫn cán, tìm bắt loài gặm nhấm trong rừng cung phụng, chỉ muốn mi đừng bỏ ta lại một mình. Giờ mi lại bám theo ta vì nghĩa tình bạn hay chỉ hau háu chờ con mồi ta tung lên trời cao. Dẫu sao ta vẫn coi mi là đồ tử tế.
*
Người bình thường. Gã từng là công dân bình thường như bao kẻ bình thường khác. Tuy nhiên gã cũng là tay độc đáo trong mắt mọi người ở đất Cô Sầu. Ấy là khiếu kéo nhị. Bầu nhị lúc nào cũng trắng mốc nhựa thông từ cây mã vĩ căng bằng lông đuôi ngựa cất lên những đêm trăng. Chỉ đêm trăng thôi mới kéo, có chút mưa thì hơi tệ, vì âm thanh không được vang. Gã đã hứa với thầy của gã rồi. Thầy dạy gã kéo nhị tên Kí. Thầy Kí bị hỏng hai mắt bẩm sinh, nhưng kéo nhị thì hay thứ nhất Mục Mã. Trước khi mất thầy Kí bảo:
- Dồ à, ta biết mày yêu quý ta!
- Vâng!
- Yêu quý cả cây nhị nữa?
- Vâng!
- Có yêu quý hơn vợ con không?
Sau một hồi đắn đo, gã quyết định:
- Hơn tất cả mọi thứ trên đời thầy ạ.
Trả lời xong, gã thoáng xao động. Không hiểu vì sao? Thầy Kí lại nói:
- Dồ ơi, nghĩ kỹ đi, nếu không vận vào thân đấy.
- Con nghĩ kỹ rồi thầy ạ.
- Vậy ta để lại cho mày cây nhị này! Phải hứa với ta một điều, những đêm trăng hãy mang nó ra trau bóng, nhưng đừng phất đi bụi thông, màu trắng của nó cũng là một phần hồn của nhị, rồi kéo vài bản cho mọi người nghe. Tiếng nhị giúp người ta sống tốt với nhau hơn.
Không nghe thầy Kí nói hết lời, nhìn ánh mắt trăn trối của thầy, gã hiểu thầy muốn nói - “Đừng bao giờ để mất những gì ta đã dày công truyền lại”.
*
Tiếng kêu như viên đạn đồng cắt gió của con chim ưng làm gã chậm bước. Nó đòi mồi đấy. Gã khoắng tay trong chiếc bao tải dứa rồi hướng miệng bao lên giời, hét to -“ Còn cứt ấy mà đòi…”. Nhưng con vật chuyên ăn thịt vẻ không nghe. Vài chục giây lặng cánh trên không tưởng đã chết, nó bất ngờ bổ nhào. “Con này định chơi khó”. Gã chỉ kịp lùi lại đã nghe tiếng “xoạt” bên vai phải. Đặt bàn tay lên chỗ rách, gã cảm nhận có vết móng nhọn vừa lướt qua. Gã toét miệng cười với thiên thần tự do đang đậu trên mỏm đá chằng chịt những dây thạch quả, đôi mắt điểm hai màu xanh, vàng như hai hòn bi ve nghiêng ngó chờ đợi.
Có tiếng động trên cành cây ven đường. Một đôi sóc đuôi bông như ngọn lau già đang vờn nhau. Gã dùng ngón chân cái và ngón chân giữa quặp một viên đá cỡ quả ổi, hất lên lòng bàn tay. Viên đá bay căng như vạch nắng. Chỉ như một cành khô nhỏ rụng xuống. Gã bước đến, vạch đám cỏ dại dưới gốc cây nhặt lên một con sóc đầu vỡ toác. Hú một tiếng nhẹ, gã tung con vật nhỏ lên trời. Nhanh như một chớp loé, con chim đập cánh lao vút lên, những vuốt sắc nhọn quặp chặt lấy con mồi. Phút chốc bóng của nó mờ trong rặng núi ẩm sương.
Có tiếng lách cách của kim khí va nhau. Âm thanh này làm gã sởn gai ốc. Tiếng chân người bước đến. Gã dừng lại. Có bốn người cả thảy. Bốn gã thợ săn chuyên nghiệp, đầu đội mũ bông, tai mũ không buộc dây lẩy vẩy như tai thỏ, áo quần ướt sượt. Mặt mũi ai cũng lạnh như những nòng sắt. Một người trong bọn lên tiếng:
- Có việc gì cần giúp á?
- Không! Đi một mình thấy buồn thì hú thôi.
- Mất công bọn tao quá! Vừa thấy “lòi” con nai, giờ thì mất dấu rồi.
Phường săn nói xong ngần ấy câu thì bỏ đi. Gã bối rối, cũng là công dân ở rừng sao gã có thể quên những quy ước. Không gặp nạn sao hú như cầu cứu? Phải học lại những điều của rừng. Đừng vì phởn chí mà quên. Mà sao cả phường săn ấy chẳng ai quen mặt? Người cũ đâu hết rồi?
*
Thầy Kí chết, gã nhận ra một điều, sao một đời thầy không có người đàn bà nào? Lạ quá? Sao mà sống yên được nhỉ? Thần tiên à? Không phải. Ngày ngày thầy vẫn ăn cháo bẹ với rau bí xào và vác mai lên quả đồi sau nhà khoét hố mèo rất đúng giờ. Chuyện “ấy” hẳn phải có chứ? Chẳng đầu óc đâu mà nghĩ thêm. Gã để tâm vào luyện ngón. Tiếng nhị nghe đã ngọt lắm.
Có người phải lòng tiếng nhị đã thành vợ Dồ. Nàng tên Lò. Con gái độc trong một nhà buôn thuốc Bắc đang kỳ phát tài. Nàng xinh xắn, uyển chuyển như con suối thu chân núi. Đẹp như thế ắt phải lấy ngay. Đó là điều Dồ khác thầy Kí.
Ngày ngày Dồ vẫn lên rẫy gieo lúa, trồng bẹ, lúc lại ra sông Quy quăng cá. Về nhà gỡ cây nhị treo vách xuống trau chuốt. Thấy chồng ôm nhị như bị bùa bả, Lò bảo, nàng là thứ, nhị kia mới là cả. Nói chỉ để vui, kỳ tình thị tự hào về chồng lắm. Tài như thần ấy, gái nào chẳng mơ. Thế là Lò đã có con với Dồ. Nhớ thầy, Dồ lấy âm tên thầy đặt cho con trai. Tên nó là Ki. Cả nhà tên Dồ, Lò, Ki đọc lên cũng thuận mồm. Thằng Ki càng lớn càng giống mẹ. Giống mẹ càng đẹp. Dồ bằng lòng về điều đó.
Tiếng nhị vẫn đều đặn cất lên những đêm trăng. âm điệu mượt mà của cây mã vĩ miết đôi dây tơ gieo vào lòng dân Cô Sầu bao cảm xúc lạ kỳ. Khi thì dạo đầu của màn một vở tuồng “Phạm Tải - Ngọc Hoa” theo điệu Dá hai, thiết tha như mạch ngầm con nước thoát ra từ đỉnh Phja Boóc tựa ngân vang từ tầng trời. Lúc đắm đuối khổ đau đến ứa máu con tim của điệu lượn then kể mối tình bi ai “Nam Kim - Thị Đan”, tích cổ người Tày. Nhưng hứng thú nhất vẫn là khúc rộn rã của kịch “Mộc Tàu Hí”, thuật tuồng hát minh hoạ bằng những con rối đầu gỗ có một không hai ở đất Việt. Khi đó người nghe như mẩn mê với âm thanh vang lừng của kiếm thần trong tay chàng mồ côi, chém đứt bảy đầu rắn quỷ, cứu muôn dân thoát khỏi lầm than. Rồi chuyện kể về “Cẩu chủa cheng vùa” chín Chua tranh vua trên đất Mục Mã… nhiều lắm! Dồ có cả một kho tàng tích cổ, chuyện tình bi ai hoạ bằng những âm thanh ngân vang trong cái đầu rối bù tổ quạ.
Dân Cô Sầu bảo tiếng nhị của Dồ nhập hồn quỷ nên mới kỳ tài đến thế. Rồi họ bỗng lo -“ Này, mọi người, nếu nay mai bỗng dưng không còn được nghe tiếng nhị của thằng Dồ nữa thì thế nào nhỉ?”. Có kẻ nói -“Thì chỉ còn mỗi việc chúi đầu vào làm, ăn xong rồi ngủ, không còn biết đến đàn địch, hát xướng, như thế gọi là đồ con lợn”. Có người phát kiến -“ Đất này chỉ có một thằng, mọi người phải quan tâm, nếu không có ngày nó bỏ đi thì mất nghe”. “Cách nào?”. “Đơn giản thôi, mỗi tháng, mỗi nhà lè cho nó một xu, đủ cho ăn cháo là sống rồi”. “Liệu ổn không?”. “Chắc”. Tin đến tai Dồ. Gã cười. Chẳng giàu có gì mấy đồng xu sắt ấy, nhưng cái tình đồng bào mới là đáng kể.
Chính quyền địa phương cũng vào cuộc. Trưởng phố Sình cao hứng - “Hội nhập đất này sẽ có thứ xuất khẩu, thời nay thứ gì mà chẳng thành hàng hoá. Dồ nhị phố ta cũng là thứ hàng hoá văn hoá”. Chẳng biết trưởng phố Sình nói thật hay giỡn, nhưng nghe nói thế, có kẻ bưng miệng cười, rồi chửi bẩn - “cứt”.
Hắn tên Soóng. Từng vào tù năm năm về tội đánh bạc. Những năm đó hắn học được nhiều thứ, nhưng có một thứ học được hắn chưa từng cho ai biết. Đến dưới gác bếp, lôi xuống chiếc túi khâu bằng da dê, hắn lấy ra một ống sáo trúc. Vừa thấy cây sáo, cặp môi dày như sên của hắn bỗng nảy phừ rừ như trẻ sáu tháng phun mưa. Hắn không thể nhịn được tiếng phừ rừ mỗi khi nhìn thấy cây sáo. Vật này hắn đã đoạt được bằng sức ngày còn ở trại. Thầy dạy hắn thổi sáo là bạn tù, người này từng nổi danh trong một đoàn nghệ thuật tên tuổi. Hắn đã xiết cổ thầy đến lè lưỡi. Để đổi mạng sống thầy chỉ còn biết chấp nhận ý định điên rồ của hắn. Cây sáo cả đời thầy luôn coi là tri kỷ từ hôm đó thuộc về hắn.
Lâu rồi không sờ đến, nhưng hắn tin mình không quên những kỹ năng. Dồ nhị đừng mơ! Ai hơn rồi sẽ biết. Hắn lôi trong đống đồ phế, lấy ra những dây điện, loa cũ. Không hiểu cách nào chỉ ba ngày hắn đã lắp xong bộ tăng âm, với chiếc micơrô buộc dây cao su, táp vào đoạn cây pẻo.
*
Có tiếng vỗ cánh của thiên thần tự do. No diều lại bay về nghỉ ngơi chứ gì. Gã gập ngón trỏ đưa lên miệng huýt một tiếng như xé gió. Con chim ưng dang đôi cánh, rồi từ từ cụp lại, sà xuống chiếc bao dứa vắt trên lưng gã. Gã thì thầm - “Ông đang làm ngứa mắt bọn phường săn đấy, đừng có mà lờ đờ như trúng nọc rắn xanh, chúng mà phụt cho một nhát thì tiêu ra khói. Từ đây về nhà hãy nằm yên trên lưng ta”.
Lại tiếng lách cách của kim khí va nhau. Má và cổ gã chợt sởn gai ốc. Cách gã chừng mươi bước, trên một bãi cỏ, phường săn dừng chân, tựa súng bên vai, ngồi hút thuốc nhả khói như đám cháy. Gã thấy ánh mắt của bọn người này nhìn mình chẳng mấy thiện cảm.
*
Đã cuối mùa thu. Khí lạnh từ núi phả xuống, trong thung lùa ra không ngăn được màu vàng trong như lọc của trăng thu. Ngồi trên ghế đẩu dễ gần nửa tiếng, Dồ vẫn chưa thể nâng cây mã vĩ cò vào dây nhị. Có gì đó gờn gợn, lẩn quất như ma làm gã chuội dần cảm hứng. Cảm giác này ám từ mấy tháng rồi. Sinh ra Dồ sao còn sinh ra Soóng. Nghe có ai nói thế hồi đầu Dồ chẳng để lọt tai. Dần dà có người bảo, tiếng sáo thằng Soóng có ma. Mỗi lần nó nâng sáo lên môi là y có rắn hổ mang chúa bò ra múa theo. Một đồn mười, ai cũng cho là chuyện kinh dị. Hẳn hoi có người thấy con hổ chúa cỡ bắp cày, cổ bè hơn bàn tay thợ rèn uốn éo theo tiếng sáo thằng Soóng. Chuyện đó là có thật. Ở Ân Độ có người chuyên luyện rắn múa theo sáo thổi được coi là những phù thủy. Sách báo nói nhiều. Nhưng với dân Cô sầu đó vẫn là huyền bí. Quan nhất thời dại, dân vạn đại ngu mà, đâu có gì đáng trách. Khó bây giờ là tiếng nhị của Dồ chỉ còn lọt tai ít người. Số đông cái tai đã hướng về nhà thằng Soóng. Hay nó định cướp những đồng xu sắt của dân Cô Sầu định quyên góp cho mình. Đồ cháo loãng cầm hơi, đáng gì mà làm thế. Mấy lần Soóng ngỏ ý -“ Dồ nhị, Soóng sáo hai người song tấu phục vụ nhân dân”. Dồ nhếch mép cười mỉa. Cái đồ mù âm, áo rách đòi sánh hoàng bào. Thấy Dồ tỏ cái ý đó, thằng Soóng chỉ cười. Nó nói:
- Khó thì thôi, mỗi người mỗi ý thích, không sao đâu mà.
Đôi mắt hẹp như mắt rắn của nó hơi nheo, vẻ như cười theo cặp môi dày, vẻ như ẩn lời thách đố. Đó chính là đêm trăng mùng mười.
Đêm nay trăng lên ngang đầu hay còn đỉnh núi, Dồ không hay. Gã đang chìm trong âm thanh da diết của cây nhị. Giữa lúc cảm xúc trào dâng, đột nhiên có tiếng rú rít của loa đài. Một giọng nói vang lên:
- Thưa… mọi người nghe tôi nói rõ không? Tôi là Soóng đây mà. Tôi xin phục vụ điệu pụt lằn (hát bụt). Sáo thổi chưa hay, có gì khiếm khuyết mọi người bỏ qua.
Tiếng nói vừa dứt, sáo nổi lên ngay. Thật là rộn rã. Lại còn vang xa nữa. Ai cũng nhận ra đó chính là tiếng sáo của Soóng. Nó vặn tăng âm hết cỡ, khiến âm thanh nổi như gươm giáo sa trường. Nhưng chỉ một khúc thôi nó tạm nghỉ như thể lấy sức chuẩn bị thổi tiếp.
Mặc cho người người nối nhau đi về phía nhà Soóng, Dồ vẫn cắm cúi nắn nót tiếng nhị với sự tập trung hiếm thấy. Mồ hôi bên mai chảy xuống dưới cằm đọng thành giọt to như hạt đỗ. Đây, khúc chàng mồ côi chém đầu rắn quỷ, tiếng gươm khua trong hang tối lẫn tiếng hét uy vũ. Tiếng cuộn mình, đập đuôi ào ào như bão nổi của quái vật. Trong Dồ chỉ còn âm thanh miêu tả sự tích hào hùng. Nhưng tất cả đều vô ích. Thằng Soóng kiếm đâu cái loa nén, miệng to như vành nón, mỗi lần Dồ miết cây mã vĩ, nháy ngón tay lên dây tơ, Soóng lại dí ống sáo vào mi cờ rô thổi ti toét, ngón tay nảy thật lực trên những lỗ, làm tiếng nhị bị át đi thảm hại. Lần đầu tiên Dồ ngưng khúc nhạc giữa chừng. Gã đứng dậy, ném ánh nhìn giận dữ về phía nhà Soóng, buông một lời than:
- Loạn rồi.
- Làm sao?
Lò đến đứng sau lưng Dồ từ lúc nào. Nàng không tỏ ra vui, cũng chẳng ra lo lắng. Nàng hỏi thế cũng là vô tình tuột lời.
- Còn sao nữa, dân phố này điên hết cả rồi!
Không để ý đến lời Dồ nói, Lò thản nhiên:
- Em thấy anh Soóng cũng là người tài ghê. Tiếng sáo nghe mê lịm.
- Đi mà lấy nó.
Dồ đứng phắt, đá tung chiếc ghế đẩu rồi hầm hầm bước vào nhà.
Từ sau lần đó, Dồ không còn hào hứng mấy với cây nhị. Tuy những đêm trăng gã vẫn tay nhị, tay ghế ra cửa ngồi, nhưng chỉ để ngồi thôi. Có muốn kéo vài bản cũng thấy khó, vì mỗi lần tập trung lấy cảm hứng chuẩn bị cò, bên kia thằng Soóng đều như nhìn thấy. Đợi Dồ nâng cây mã vĩ, hắn lập tức bật ngay loa nén, tung vài điệu xà xá, pụt lằn đối đáp. Dồ chửi Soóng là đồ ném đá hội nghị, là kẻ không ra gì, rồi thở dài ngao ngán, trò này không biết khi nào mới thôi.
Không thể nói ra một điều tệ hơn, vợ gã, thị Lò từ lúc nào đã ngầm có thiện cảm với thằng thổi sáo ma. Chuyện tình ý đàn ông đàn bà nhất lại là vợ mình làm sao che nổi mắt Dồ. Tỏ thái độ quân tử, gã lờ đi cho yên. Nhưng hôm nay thì hoà khí không nén nổi lửa giận. Gã vắt cái chài mắt thưa lên vai chuẩn bị ra sông Quy đánh cá, chợt thấy thằng Ki, con trai gã năm nay tám tuổi đang hí hoáy vo hòn đá trắng làm bi trong miệng hai cái lọ pênicilin. Gã hỏi nó:
- Mé mày đâu?
Thằng bé vẫn cặm cụi xoáy viên đá, trả lời:
- Đi nhà Soóng mượn thoòng thoỏng rồi pa à.
- Lâu chưa?
Gã chỉ định hỏi ra khỏi nhà lâu chưa, thằng Ki lại đáp:
- Mấy lần trăng rồi.
- Ngày nào cũng đi mượn thoòng thoỏng? (khuôn hấp bánh phở bằng tôn, hình tròn)
- Thấy bảo thế. Pa đừng đi tìm mé nhé.
- Sao?
- Pa ít sức không vật nổi Soóng đâu.
- Thế à. Mẹ mày chứ.
Toàn thân gã bỗng run lên. Cảm giác có một luồng điện chạy vọt từ gót chân lên não bộ. Vứt chài xuống nền nhà, Dồ vừa bước vừa chạy.
Cửa vẫn mở. Trong nhà Soóng, Lò đang đứng cười nói ngả nghiêng. Thằng Soóng hai tay chống hông ngả người ra sau cười theo. Chúng nó cười gì nhỉ? Dồ dận bước đến giữa nhà, chúng vẫn làm như không biết.
- Vui quá nhỉ? - Dồ lên tiếng.
Thằng Soóng tỏ mặt vui vẻ:
- Bình thường thôi.
- Tao hỏi con kia! Mọc rễ ra đít rồi mà vẫn chưa muốn về à.
- Ơ, tưởng đi sông rồi.
Dồ không trả lời. Quay bước ra cửa.
Từ hôm nay Dồ không còn muốn nhìn mặt Lò nữa. Gã lấy búa chém vào cột cái thề, sẽ để mặc cho thứ ấy của Lò mọc rêu. Lò thấy thế chỉ cười, thị không thấy sợ, mà chỉ thấy buồn cười mới lạ chứ.
Không hiểu sao hồi này gã cũng nhạt với thằng Ki. Thỉnh thoảng gã trộm nghĩ “chẳng có nét gì của mình cả, như đồ rởm ấy”. Càng nghĩ càng rối. Cây nhị trong tay gã cũng bỗng trở nên biếng nhác. Mấy đêm nay trăng sáng là thế, trời quang là thế mà âm không sao thoát ra. Cứ đùng đục, nghèn nghẹn như bị bóp mũi. Ma ám à? Chưa khi nào gã rơi vào tâm trạng bi đát như thế. Thằng bé vẫn quẩn quanh bên chiếc cối đá trước cửa. Nó hồn nhiên đút hai chân trong cái lỗ cối rồi đứng dậy chơi trò giữ thăng bằng. Ngứa mắt quá! Gã bỗng quát:
- Xuống.
Thằng Ki ngồi thụp, len lén bò khỏi miệng cối. Nó chưa kịp đứng yên đã nghe gã hỏi xẵng:
- Mé mày đâu?
- Lại đi nhà Soóng mượn thoòng thoỏng rồi.
- Mẹ mày chứ! Ngày nào cũng đi mượn thoòng thoỏng. Ông thì…
Gã ghìm lại câu cuối, rồi vội vã ra cửa. Đi mượn thoòng thoỏng à? Gã cứ lẩm bẩm câu đó cho đến khi dừng chân trước ngôi nhà xây đá hộc.
Cửa nhà Soóng hôm nay đóng kín. Bên trong như không người. Chỉ tiếng sáo cất lên đủ nghe. Không chút do dự, Dồ co chân đạp mạnh vào cửa. Đôi cánh nghiến nặng gần tạ mở toang, giập vào tường bật tiếng “ùm” nghe như mìn nổ. Phía bếp lò đặt chảo trâu đun cám lợn, Soóng và vợ gã đang ngồi tựa vai nhau. Trên môi hắn, cây sáo vẫn đó nhưng tiếng đã im bặt. Thấy Dồ xuất hiện, thần thái bừng bừng như lửa, Soóng bỗng chùn. Nó đứng dậy thế thủ. Giọng run run:
- Dò, chó có tiếng, nhà có chủ, sao mày dám phá cửa nhà tao mà không lên lời?
- Làm thế để mày bỏ chạy à. Đồ chó đực, thò mõm sang máng nhà khác ăn vụng. Mày lừa được con rắn độc, đừng hòng lừa được tao.
Tay cầm thanh gỗ cài cửa, Dồ lao vào thằng Soóng nhằm đầu nó đập xuống. Cạnh gỗ trúng vào thái dương khiến thằng Soóng hoa mắt. Nó loạng choạng, hai tay ôm đầu đỡ đòn. Thấy mặt Soóng máu loang đỏ, Lò sợ đến cứng hàm. Mãi sau thị mới nhớ ra cần phải kêu cứu. Thị cuống quýt la lối:
- Ôi…ôi... giết người, có người giết người, cứu cứu.
Xem ra Soóng đã tụt hết nhuệ khí, Lò rối rít:
- Cửa sau mở, cửa sau mở chạy qua đấy nhanh đi.
Nghe tiếng tru tréo, Soóng bỗng lờ đờ nhận thấy, chắc chết nếu không thoát khỏi đây. Hắn dồn hết sức vào đôi chân chạy qua cửa sau, ôm bờ rào đá ngang tầm đầu, vọt ra ngoài.
Định đuổi đánh kỳ cùng thằng thổi sáo ma, Dồ bỗng đổi ý. Dâm phụ kia, nó lại còn chỉ lối cho nhân tình thoát mạng. Bắt chết không oan. Nhằm bộ mặt như bị rút hết máu của Lò, gã phi mạnh cây gỗ. “Choang”. Thanh gỗ bay trượt, trúng ngay cây đèn dầu. Cây đèn vỡ, rơi xuống những cây ngô chất lộn xộn bên bếp, bén lửa bùng cháy. Nhìn ngọn lửa bốc cao, Lò càng hốt hoảng. Thoát khỏi cây gỗ bắt chết của Dồ, không lẽ đứng đây chờ chết thêm lần nữa. Thị liều mình lao ra cửa trước, tóc rũ rượi. Dồ đuổi theo. Vừa đến cửa gã bỗng sững lại. Sao ở đâu ra lắm người, già có, trẻ có ai cũng thùng, chậu, câu liêm trong tay? Tiếng la lối, khóc than vang khắp Cô Sầu.
Nổi lửa đốt ba nhà cháy rụi. Tội đó thật nặng. Đúng thôi! Mấy nhà nối mái với nhà thằng Soóng cháy theo thảm hại. Tội này chẳng oan. Nhưng nặng hơn là tội cố tình đả trọng thương người lương thiện không cầm được sáo thổi, bát ăn. Gã biết thằng này chỉ giả chờ chết ăn vạ. Dẫu sao gã cũng mang tội áp đáo tại gia. Không thể chối. Tố cáo nó vật vợ mình cưỡng hiếp? Không được. Hai đứa chúng nó thông dâm. Muốn gỡ tội nhẹ bớt cũng không chứng cớ. Thua. Cộng tất cả, tòa tuyên Dồ phải chịu án tám năm tù giam. Đi tù ha? Càng tốt, hơn phải ở lại ngày ngày nhìn mặt lũ người đáng ghét. Sao không như xưa nữa. “Nếu như vắng Dồ nhị dân phố này sẽ sống ra sao nhỉ?”. Bây giờ cả phố cổ cánh, dồn gã như dồn con thú mắc dại vào xà lim cánh sắt. Đi tù thì đi. Chúng mày sẽ chỉ còn biết ăn rồi ngủ như một lũ lợn. Gã chỉ một nguyện vọng được mang theo cây nhị nhưng không được. Đến đó là để cải tạo hoàn lương, chứ không phải nhăm nhăm trổ tài hát xướng. Đành gửi lại nó trên vách tường, chờ ngày tái ngộ.
*
Liệu có còn đó không nhỉ? Dồ lặng lẽ đẩy cửa, bước vào nhà. Mốc meo bụi bặm quá! Tim gã bỗng quặn, sống mũi cay cay. Còn bàn tay nào chăm sóc nữa đâu. Ngày trong tù gã biết đồ dâm phụ kia đã ôm con theo thằng Soóng đi mất tăm. Chẳng tiếc. Áo mục tới cổ sao còn mặc được. Có ánh mắt nhòm qua khe cửa. Bọn người hiếu kỳ đất Cô Sầu đấy! Mặc xác. Mặt Dồ này mọc thêm cái mũi thứ hai đâu mà nhòm. Con chim ưng vẫn đậu trên vai ghế. Nó thản nhiên rỉa cái mỏ khoằm như lưỡi câu vào đôi cánh. Nhìn thấy nó lòng Dồ cũng bớt nặng. Nhưng mắt gã bỗng dại đờ. Nhị kia, vẫn nguyên trên vách. Mạng nhện phủ dày lên nó như một tấm chăn. Trong bụi mờ và nắng mỏng xuyên qua mái ngói, có khuôn mặt ai như mặt thầy Kí. Có tiếng ai như giọng của thầy, thều thào nhưng rành rẽ từng lời - “Liệu anh có yêu nó hơn cả vợ con không?... Dồ ơi nghĩ kỹ rồi hãy trả lời, nếu không vận vào thân đấy”. Ôi, thật ra là thế nào. Gã đã ghen, nghĩa là rất yêu con vợ. Yêu đến mức hoá kẻ điên, rồi tự tay vò nát tất cả. Tiếng đàn nữa, khi đó nó đã không cất lên nổi những âm thanh như ý. Gã ngửa hai bàn tay. Một cảm giác thừa thãi, trống rỗng. Gã thấy cuộc đời vô nghĩa. Liệu có còn chút duyên được chạm vào tri kỷ. Gã cố. Bàn tay đã chạm tới. Gã nín thở gỡ nó khỏi vách, búm môi thổi nhẹ. Vẫn cần đàn trơn bóng, vẫn mặt bầu phủ bụi nhựa thông, nhưng gã ngờ trong bầu đàn có gì đó. Là gì nhỉ, tiếng lọc cọc lạ lắm? Gã nâng đàn ngắm nghía. Mép dưới bầu có một đinh gỗ căng mặt da trăn bị sứt. Không thể như thế, gã đã chăm chút nó biết bao nhiêu. Sao có sự sơ suất? Có tiếng động lạ bên trong nữa kia. Gã đưa móng tay cẩn thận gẩy nhẹ mép da trăn. Trong bầu có một mảnh giấy, lại cả một hòn bi bằng đá nữa. Trời ạ! Gì thế này? Không thể lẫn vào đâu được, đây là chữ của thằng Ki. Nó viết gì trong này thế? Gã đưa bàn tay run run vuốt lại mảnh giấy. Những hàng chữ xiêu vẹo hiện lên - “Pa ơi, con làm hòn bi này tặng cho pa, con phải đi đây, con nhớ pa lắm, nhưng con không biết tìm pa ở đâu, nhưng con biết pa lớn rồi, thế nào pa cũng tìm thấy con”. Hai mắt gã bỗng nóng bừng. Gã nhắc mình đừng có khóc như thế. Nhưng không thể. Gã là đồ khốn, một kẻ chẳng ra gì. Đã hắt hủi và làm tổn thương thằng bé. Sao gã nỡ từ chối máu thịt của mình, dù chỉ là trong tâm tưởng. Gã run rẩy gọi tên con “Ki ơi”, rồi cầm cây nhị đi về dãy núi phía Nam.
Con chim ưng vỗ cánh bay đi phía trước. Tiếng kêu két két của nó nghe như tiếng đạn đồng xé gió cắt ngang trời. “Đùm…đùm”! Có tiếng súng nổ, nghe gần lắm. Dồ ngửa nhìn. Trên cao kia liệu có nhầm không? Đó là con chim ưng, bạn gã. Nó không thể điều khiển được cánh bay. Thiên thần tự do của gã đang lao xuống mặt đất. Tim gã thắt lại. Gã chạy đến gỡ nó ra trong một đám cỏ khô. Ức nó vỡ toác. Gã ngồi bệt đất, thẫn thờ “Thế là hết rồi thiên thần tự do”. Nhìn đôi mắt như hai hòn bi ve điểm màu xanh, vàng đang chuyển dần sang trắng đục. Thứ màu trắng thật giống với viên bi đá thằng Ki để lại. Gã cảm giác con tim trong ngực đang bị một bàn tay ai đó bóp chặt. Gã thò tay vào túi quần, lấy ra hòn bi nhỏ. Viên bi bỗng tuột khỏi tay, nảy tâng tâng rồi lăn xuống chân đồi. Sợ viên bi sẽ mất hút trong đồi cỏ mênh mông, gã hốt hoảng chạy đuổi theo như đuổi theo một đứa trẻ đang tìm cách chạy trốn. Phía chân núi, bốn gã phường săn đang ngồi nghỉ. Nét mặt bình thản, súng kíp tựa vai, miệng nhả khói thuốc như đám cháy.
|