|
Một người đàn bà một con chim (chùm thơ)
|
Lời giới thiệu của dịch giả:
 |
| Jean Tardieu (1903-1995) | Jean Tardieu (1903-1995) là nhà thơ, nhà văn, kịch tác gia và là một trong những người viết về nghệ thuật độc đáo nhất của nước Pháp. Ông sinh ở Saint-Germain-de-Joux năm 1903 trong một ngôi làng nhỏ ở Jura, xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ: cha là họa sĩ Victor Tardieu (sau này là người sáng lập trường Mỹ thuật Đông dương ở Hà Nội), mẹ là một nhạc sĩ đàn harpe, môn đệ của Saint-Saëns. Là một trong những gương mặt quen thuộc của sinh hoạt văn nghệ Paris, những bài thơ đầu tiên của ông xuất hiện trên tạp chí La nouvelle revue française năm 1927 đã được nhiều người chú ý và ngưỡng mộ. Sau thời gian quân dịch ở Việt Nam trở về Paris (1932), ông tham gia in ấn và xuất bản sách báo Kháng chiến, bắt đầu kết thân với Aragon, Éluard, Queneau, Seghers và Frénaud, tiếp tục làm thơ, viết kịch, làm việc cho Viện bảo tàng quốc gia, rồi nhà xuất bản Hachette, và hoạt động lâu năm trong ngành phát thanh. Jean Tardieu mất ngày 27/01/1995 ở Créteil, để lại cho hậu thế một gia tài thơ ca và sân khấu đồ sộ, không những trên quê hương ông mà còn trên khắp thế giới.
Ngoài những vở kịch nổi tiếng (trong Théâtre de Chambre, 1955; Le Professeur Froeppel, 1978; La cité sans sommeil, 1984; những vở kịch in trong La comédie du drame, 1984 - trong số có l’Épouvantail; l’Archipel sans nom, 1991), những bài văn xuôi đầy chất thơ (La Part de l’ombre, 1972), những công trình tìm kiếm hình thức thơ ca (Formeries, 1976), tự truyện (On vient chercher Monsieur Jean, 1990), và nhiều bài viết tuyệt đẹp về nghệ thuật tạo hình, những tác phẩm thơ Jean Tardieu để lại cho chúng ta như Accents, Le témoin invisible, Jours pétrifiés, Monsieur Monsieur, Une voix sans personne, Histoires obscures, Colloques et Interpellations, Margeries... cho thấy một tiếng nói luôn luôn tươi, mới, và mỗi bài thơ là một sân khấu không cường điệu trong đó chữ viết và sự im lặng, đêm và ngày, mơ và thực cùng một lúc biểu hiện bi kịch của con người. |
Chuyện trò (trên ngưỡng cửa, giọng hiền lành)
Trên mặt đất mọi sự tốt đẹp chứ? - Tốt đẹp tốt đẹp, tốt đẹp lắm.
Mấy con chó nhỏ phây phây chứ? - Trời ơi vâng cám ơn lắm.
Thế còn mây? - Vẫn bồng bềnh.
Thế còn núi lửa? - Vẫn âm ỉ.
Thế còn sông? - Vẫn chảy. Thế còn thời gian? - Vẫn trôi. Thế tâm hồn ngươi? - Nó đang bệnh mùa xuân xanh tươi quá và nó đã ăn quá nhiều rau cải.
(Trích từ tập: Monsieur, Monsieur, 1951)
Một người đàn bà một con chim
Con chim to tướng bay trên cánh đồng giữ cùng nhịp với thung lũng và núi đồi, chúng ta nhìn thấy chim bay rất lâu trên bầu trời vô tận trời không phải ngày cũng chẳng phải đêm. Một con cò? Một con đại bàng? Đồng loạt đường bay im lặng của cú nâu và cánh bay sải huy hoàng của vị thần đã biến thành chim...
Đôi mắt ta ngoảnh đi một lúc bỗng thấy điều huyền diệu đáp xuống: đấy là con gái của bình minh và của đam mê thiên thần sa xuống cánh đồng chúng ta với một thân hình phụ nữ hơn chính tình yêu và dài tha thướt đôi chân chạm mặt đất bởi gió trong cánh bay còn giữ nàng lơ lửng. Rốt cuộc bộ lông vũ trắng mượt mà khép lại trên người đàn bà pha lê. Nàng như không trông thấy chúng ta cũng chẳng thấy lạ khi mặt hồ trước bước chân mình đã trải... dài nàng nhào xuống miệng mỉm cười với chính mình sung sướng được nhớ lại những ngày trước và thời khắc bấy giờ không giới hạn... Trong mặt nước thủy tinh nàng đan dệt những dấu hiệu của một ngôn ngữ lạ lùng rồi đôi cánh vung vẩy, những hạt trai viền quanh, sáng ngời trở lại và lạnh băng, đôi chân nàng nện lên đất... Như ta vẫn còn nhìn thấy nàng đây đầu hơi nghiêng về phía trước và toàn thân gần như đã tách rời, đúng như chúng ta đã nhìn thấy nàng bay lên và biến mất trên nền trời xanh. Chính từ lúc ấy ta biết được bằng ý nguyện tinh tế nào và những động tác bí ẩn nào chúng ta có thể bay khi chung quanh đều yên ngủ.
(Trích từ tập: Histoires obscures)
Ngã tư đường những cơn ác mộng
Những con người bị giấc mộng mình săn đuổi, giữa giấc ngủ giữa lo sợ cùng tụ lại trên một khoảng đất trống mở ra làn nước cống, đen hơn cả đêm đen. “Tôi, - một người nói, - tôi chạy và con chó cắn tôi thế nhưng bà láng giềng đã hấp hối rồi một con ngựa đưa tôi đi hạnh phúc đang chờ tôi...”
Một người khác rên xiết: “Tôi ra khỏi thân thể tôi, tôi thay nhà thay mặt tôi chẳng biết tôi là ai, thế tuy nhiên tôi có chiếc nhẫn đeo tay này khi nhìn thấy nó tôi khóc mà chẳng hiểu”.
Và mọi người gần như trần truồng cười hụt cả hơi họp ở đàng xa kia thành một nhóm run lập cập vì đã khám phá ra một kho tàng trên mặt những đá lát không gì chói sáng ngoài một mảnh chai màu lục bảo và ngọc lam trong máu của suối dòng.
Và như thế hết người này đến người khác ra đi xô đẩy bởi hơi thở của giấc mơ cuốn trôi hết mọi người.
(Trích từ tập: Histoires obscures)
Thiên nhiên
Đó là một con chim đang đến gần vừa bay vừa khóc Là một áng mây đang vừa nói vừa mơ một tảng đá lăn để giết thì giờ một cây sậy ngắm mình trong mặt gương hồ cây rừng sừng sững như những người và người. Tất cả họp thành một đám đông đợi chờ - nhưng con người, - vắng bóng, vắng bóng, vắng bóng...
(Trích từ tập: Histoires obscures)
Con người lạc quan bé nhỏ
Từ sáng sớm tôi đã nhìn tôi đã nhìn qua cửa sổ: tôi thấy những đứa trẻ đi qua.
Một giờ sau, lại là những người lớn. Một giờ sau, lại là những cụ già run rẩy.
Ai nấy chóng già quá! tôi nghĩ. Thế mà tôi thì cứ mỗi lúc một trẻ ra!
(Trích từ tập: Colloques et Interpellations)
Hoàng Ngọc Biên dịch và giới thiệu
------------------
* Ghi chú: Năm 2001 Nhà xuất bản Trình bày (Mỹ) đã xuất bản cuốn Thư Hà Nội của Tardieu cùng với một bài viết về tác giả và thời gian quân dịch của ông ở Hà Nội, đồng thời giới thiệu và chú thích tường tận Lettre de Hanoï (Gallimard, 1997), tác phẩm ấn hành sau khi tác giả qua đời.
|