Thơ

Thứ năm, 07/10/2004, 15:23
 

Tôi chỉ có thể nói cho chính tôi (chùm thơ)

Adam Zagajewski

Tôi không thích học thuyết, cũng chẳng thích chữ nghĩa
  hay thơ ca
Không muốn trở thành một con diều hâu của văn chương
Tôi tin ở sự trung thành và trí nhớ
ở sức mạnh của sự tự kiềm chế

Tác giả Adam Zagajewski.

Adam Zagajewski (1945-) sinh ở Lvov và lớn lên ở Cracow, học triết học ở Đại học Jagiellonian, Cracow. Làm thơ, viết tiểu thuyết, tiểu luận, ông là một trong hai đại biểu nổi bật nhất của “Thế hệ 68”, cùng với Ryszard Krynicki. Ông khởi đầu sự nghiệp văn chương năm 1972, với một tập thơ đã xuất bản, và từ đó đã cho in năm tập thơ khác, ba cuốn tiểu thuyết và bốn tập tuyển các bài tiểu luận - từ cuốn Thế giới không được có chân dung (1974, hợp tác với Julian Kornhauser) cho tới cuốn Đoàn kết, Cô đơn (Ecco Press, 1990). Thơ, tiểu thuyết và tiểu luận của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Tập tuyển thơ Tremor (Farrar, Straus & Giroux, New York, 1985, với bài tựa của Czeslaw Milosz) và tập Canvas (Farrar, Straus & Giroux, 1991) là hai tác phẩm đã làm ông nổi tiếng hơn trên văn đàn thế giới. Thơ Zagajewski mô tả một thế giới đầy dẫy bóng dáng chuyên chế, bạo lực, giết chóc, nhưng cùng lúc trong thế giới ấy ẩn hiện cái đẹp, niềm vui, tình yêu... Từ 1982, Zagajewski sống ở Paris.

Vừa qua, Adam Zagajewski đã được tặng Giải thưởng Quốc tế Neustadt về Văn chương năm 2004. 

Tôi chỉ có thể nói cho chính tôi

Tôi, kẻ vô thần của hai nhà thờ,
một tên ngoài đảng giữa những đảng viên,
một kẻ lửng lơ với lòng tin giữa những tín đồ,
kẻ mơ hồ giữa những người xác tín,
bàn tay tôi không còn quen
làm dấu thánh giá,
là kẻ do dự giữa những kẻ
nói dối, nắm tay tôi không khép
mạnh theo dấu hiệu đánh nhau, là kẻ vẫn
muốn tin giữa những kẻ đã tin,
thất vọng bây giờ, một mình nhưng không
cô đơn, là kẻ không trả nợ thuế
kẻ quả là không có mặt ở đấy, dù thực sự
muốn có mặt, kẻ không nghiêm chỉnh,
chàng lễ sinh ở nhà thờ sau lễ lại nghe
nhạc Beatles, cắt đứt khỏi những khái niệm
cổ điển, bị trục ra khỏi châu Âu, trần truồng trước
một phòng kho đầy áo quần cũ, nhớ lại
mùi long não của thời thơ ấu, dù vẫn
chưa bị xóa tên trên danh sách, là tên muôn thuở dự thi
trẻ tuổi, trung niên, khao khát, không toại nguyện
dù chưa hoàn toàn tin chắc,
là kẻ tà đạo trong giáo khu, tên học trò xấu, hỡi người cha
công dân giám đốc, đồng chí bí thư,
thưa hoàng thân công chúa, thưa ngài,
thưa bà, thưa anh bạn, con người, tôi chỉ có thể nói cho
chính tôi


Quả táo

Tôi không thích học thuyết, cũng chẳng thích chữ nghĩa
  hay thơ ca
Không muốn trở thành một con diều hâu của văn chương
Tôi tin ở sự trung thành và trí nhớ
ở sức mạnh của sự tự kiềm chế
Từ quả táo cắt ra được
Hột cứng cái tế bào xinh đẹp
Như vương quốc phản chiếu trong một giọt nước
Tôi tin ở lời cầu nguyện thì thầm những tiếng Ba Lan
Và ở sự xác thực của thế giới, ở hơi ấm của tia nắng
Tỏa đến từ cõi xa
Tôi tin đời sống căng chật như một cái cung

Gai

Nếu như các tay độc tài cũng muốn
đọc những bài thơ đau đớn, giận dữ, và
sắp xếp rất khéo của chúng ta, thì thơ ca
chắc hẳn sẽ thay đổi thế giới. Thế nhưng
chính hoa hồng cũng còn không biết tới những bài thơ
  viết tặng
chúng. Những cái gai không biết uống máu

Lửa

Tôi có lẽ là một tên tiểu tư sản bình thường
tin ở quyền cá nhân, cái từ
tự do với tôi thật đơn giản, nó không có nghĩa
tự do của một giai cấp nào đặc biệt.
Ngây ngô về chính trị, với một vốn học vấn
trung bình (những thời gian ngắn mở mắt nhìn rõ
là thức nuôi dưỡng chính của nó), tôi còn nhớ
sức lôi cuốn hừng hực của ngọn lửa làm khô
môi đám đông đang khát và đốt
sách vở và thiêu trọn những thành phố. Tôi thường hát
những bài hát ấy, và tôi biết đẹp đẽ như thế nào
khi ta cùng chạy với những người khác; thế rồi tôi vẫn một mình,
với cái vị tro than trong miệng, tôi nghe
giọng nói mỉa mai lừa dối và dàn đồng ca la lối
và khi tôi sờ đến cái đầu tôi có thể cảm được
chiếc sọ uốn cong của đất nước tôi, đường cạnh
  khắc nghiệt của nó


Người đi lang thang

Tôi bước vào phòng đợi trong một nhà ga
Không một hơi gió.
  Tôi có một cuốn sách để trong túi,
những bài thơ của ai đấy, những vết tích của cảm hứng.
ở cửa ra vào, trên các ghế dài, hai người lang thang và
  một người say rượu
(hay hai người say rượu và một người lang thang).
Đầu kia, một cặp vợ chồng đứng tuổi, rất lịch lãm, ngồi
nhìn lên đâu đó, hướng vế nước Ý hay bầu trời.
Chúng ta xưa nay vẫn chia rẽ. Nhân loại, quốc gia,
những phòng đợi.
  Tôi dừng chân một lúc,
lưỡng lự không biết nên đến với nỗi khổ
nào.
  Rốt cuộc, tôi lấy một chỗ ngồi ở giữa
và bắt đầu đọc. Tôi một mình nhưng không cô đơn.
Một kẻ lang thang không đi lang thang.
  Điều phát hiện
lập lòe và tắt luôn. Những núi hơi thở, những thung lũng
khép kín. Chia rẽ vẫn tiếp tục. 


Những bài thơ viết về Ba Lan

Tôi đọc những bài thơ về Ba Lan do những
nhà thơ nước ngoài viết. Người Đức và người Nga
không những có súng, mà còn có
mực, bút, một tấm lòng, và rất nhiều
tưởng tượng. Ba Lan trong những bài thơ của họ
nhắc tôi nhớ một con kỳ lân táo bạo
sống bằng len của các tấm thảm, nó là con
vật đẹp, yếu, và bất cẩn. Tôi không biết
cơ cấu của ảo ảnh ấy dựa trên cái gì,
nhưng ngay cả tôi, một người đọc điềm tĩnh,
tôi cũng rất thích mảnh đất cổ tích không được ai bảo vệ,
sống bằng mảnh đất ấy là những con đại bàng đen, những
ông vua đói, Đệ Tam Quốc xã, Đệ Tam La mã.


Trong cái đẹp sáng tạo bởi người khác

Chỉ trong cái đẹp sáng tạo
bởi người khác ta mới thấy có an ủi,
trong âm nhạc của người khác và thơ ca của người khác.
Chỉ những người khác mới cứu được chúng ta,
dù sự cô đơn vẫn có cái giống như
thuốc phiện. Những người khác không phải là địa ngục,
nếu chúng ta gặp họ sớm, với những vầng
trán trong sáng của họ, được rửa sạnh bằng những giấc mơ.
Bởi vậy nên tôi tự hỏi chữ
nào nên được dùng, “hắn” hay “anh”. Mỗi “hắn”
là một sự phản bội của một “anh” nào đó nhưng
đáp lại, bài thơ của một người nào khác
luôn đem đến sự trung thực của một cuộc đối thoại
  điềm tĩnh.


Tháng Năm

Khi tôi dạo bước trong rừng vào lúc bình minh,
tháng Năm, tôi cứ hỏi các anh ở đâu, những linh hồn
của người chết. Các anh ở đâu, những người trẻ tuổi
đang mất tích, các anh ở đâu,
những người đã hoàn toàn biến đổi?
Yên tĩnh hoàn toàn ngự trị trong rừng,
và tôi nghe những chiếc lá đang nằm mơ,
tôi nghe giấc mơ của vỏ cây từ đó
sinh ra thuyền, tàu, buồm.
Và rồi, chậm rãi, chim bay tới, sẻ cánh vàng, chim hét, sáo đá
trên các nhánh cây bổ ra, mỗi con hót tiếng
khác nhau, với giọng riêng của mình, không đòi hỏi gì,
không cay đắng hay tiếc thương.
Và tôi nhận ra trong khi hát, anh
khó hiểu như âm nhạc, cách xa chúng tôi
như chúng tôi cách xa chính mình.


Cơn sốt

Ba Lan giống như cơn sốt khô trên
môi của một di dân. Ba Lan,
một bản đồ bị ép bởi những cái bàn ủi hơi nước
của những chiếc xe lửa đường dài. Đừng quên
mùi vị của quả dâu tây đầu mùa,
cơn mưa, mùi hương của những cây đoạn ướt sương
đêm, hãy lắng nghe âm thanh chát chúa
của những tiếng nguyền rủa; hãy ghi chép về hận thù,
chiếc áo khoác tha hóa bị xén;
hãy nhớ những đường nối và những đường chia.
Một mảnh đất của những con người ngây thơ đến
độ không ai cứu nổi. Một con cừu được khen bởi một con
  sư tử
vì tư cách đứng đắn của nó, một nhà thơ lúc nào cũng
đau khổ. Mảnh đất không có vết đau, lời thú tội
không có tội lỗi con người. Hãy sống một mình.
Hãy lắng nghe tiếng hót của một con chim hét
không được rửa tội. Mùi hương ẩm lạnh của mùa xuân
đang tràn ngập, một dấu hiệu ác nghiệt.

Hoàng Ngọc Biên dịch từ bản Anh ngữ

Nguồn: Canvas, A. Zagajewski (R. Gorczynski, B. Ivry và C. K. William dịch); Tremor- Selected Poems, A. Zagajewski (R. Gorczynski dịch, Farrar, Straus & Giroux, Inc, New York, 1985).

Đã đăng trong tập Thơ mới Ba Lan, NXB Trình Bày, 1993. 

Các bài khác:
 

Đối thoại với bóng

Tóc em (chùm thơ)

Muộn

Ai đưa bong bóng lên trời

Sau bài ca

Thời gian (chùm thơ)

Rừng hoang (thơ)

Mùa về... (chùm thơ)

Ngày xưa

Bốn mùa

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z