|
‘Gió lẻ’ không chịu ảnh hưởng của J.P. Sartre và A. Camus
Ngô My
(Gởi bà Đoàn Thị Cảnh, Giảng viên khoa Xã hội - Nhân văn, Đại học Phú Xuân, TP Huế, tác giả bài viết "Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus")
"Gió lẻ" chẳng có dính dáng gì đến "dấu vết của Jean Paul Sartre". Sự chọn lấy cái chết của cô gái trên chiếc xe Landu kia cũng không có quan hệ gì đến cõi phi lý của Camus. > Truyện "Gió lẻ" của Nguyễn Ngọc Tư
Tôi chỉ là một độc giả, sống ở thành phố San Diego, Mỹ. Tôi không phải là bất cứ "nhà" nào trong các nhà này: nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nhà văn hóa... Hy vọng không ai nỡ bảo tôi rằng, là độc giả thì cứ biết đọc thôi, phải cũng đọc, sai cũng đọc, không đủ tiêu chuẩn, trình độ để lên tiếng trên văn đàn, nơi chỉ dành riêng cho "những cây đại thụ" chuyên gia phê bình văn học.
May mắn thay, hiện nay Internet đã thực sự mở ra một diễn đàn cho mọi tầng lớp nhân dân. Tôi mong được gởi một câu thơ của Ngô Kha đến bà Đoàn Thị Cảnh:
"Mà nay gió cũng tang bồng Nhưng thi sĩ vẫn nằm im trong nhà tù vĩnh cửu"
Bà Đoàn Thị Cảnh là một thi sĩ, có thơ đăng trên eVăn, và là một giảng viên đại học, nhưng lời bình mà bà dành cho Gió lẻ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư khiến người đọc phải bàng hoàng:
"Nhưng vấn đề của Gió lẻ chính là ở chỗ, không mất quá nhiều thời gian và không cần quá tinh tế, người ta cũng sẽ thấy ngay dấu vết của Jean Paul Sartre và Albert Camus ở tác phẩm này. Đáng tiếc đó không phải là sự hấp thụ ánh sáng mà là núp bóng hai cây đại thụ".
Gió lẻ chẳng có dính dáng gì đến "dấu vết của Jean Paul Sartre". Sự chọn lấy cái chết của cô gái trên chiếc xe Landu kia cũng không có quan hệ gì đến cõi phi lý của Camus.
Tôi lấy làm ngạc nhiên sao bà Cảnh lại có thể đặt một câu hỏi thế này:
"Vậy tại sao khi em khôi phục lại ngôn ngữ - một dấu hiệu của loài người... thì em lại cho xe lao xuống vực một cách vô lý như thế?"
Bà Đoàn Thị Cảnh chắc chắn là đã không hiểu ra lý do vì đâu khiến cho "em" phải chọn lấy cái chết. Trong điện ảnh, đạo diễn thường thể hiện những điềm dữ sắp xảy ra bằng những âm thanh hoặc hình ảnh có vẻ bất an quái gở. Nguyễn Ngọc Tư cũng đã khá vững tay trong "kỹ thuật" này.
"Chợ trưa đông ruồi, ít người... Một người thanh niên dáng vẻ u ám, gầy nhom ghé lại, thì thầm:
- Em tưởng bỏ tôi dễ dàng như bỏ một con chó sao?
Và một chị gục xuống, trong âm thanh róng riết kinh hoàng. Máu chị phun ra thành vòi từ mũi dao xuyên qua ngực.
Em nghẹn đi trong nỗi ân hận, em đã nghe nhịp tim người đó, hơi thở người đó khi anh ta tiến lại gần. Em nghe trong anh ta đang sôi lên, máu ập vào tim như sóng, và trái tim đó như sắp bục ra. Em cảm giác được nhưng em không biết tên của những biểu hiện đó là Giết Chóc.
Rất nhiều thứ thuộc về con người mà em không biết. Như anh Tìm Nội khi từ nhà quay trở lại, nhịp thở trong anh rất khác, như hoang mang, như thắt thẻo, và trái tim đôi khi lay lắt, lúc lại bồn chồn".
Lẽ nào bà Cảnh lại không có một linh cảm gì khi đọc đoạn trích trên để rồi liên tưởng đến những gì sắp xảy ra sau đó...
"Dự mím môi, nếu xốc tới thật dài, bên kia núi biết đâu có người đang đợi.
Em nghe một đoạn âm thanh rất nhanh bên mình, và em kịp nhớ nó giống hệt của người thanh niên xoáy ngọn dao vào tim chị đàn bà giữa chợ. Lòng em cồn lên, và cơn đầy ứ bắt đầu tràn ngược lên cổ họng. Cách một khoảng sương, ông Buồn đang chậm rãi làm tín hiệu mở đường.
Ông không biết xe đang lao vào ông. Trong cơn buồn nôn đắng đót, em ngã người giằng tay anh Tìm Nội và kiệt sức níu chiếc xe trôi nghiêng về phía mình, phía không ông, không ánh sáng".
"Em" đâu có "cho xe lao xuống vực một cách vô lý". "Em" chọn cái chết để cứu người mình yêu cơ mà.
Cho nên, lời phán của bà Cảnh "Sự vô lý nằm ở nội dung tư tưởng câu chuyện. Nội dung câu chuyện là… không có nội dung gì. Cõi phi lý mà Nguyễn Ngọc Tư chuyển tải qua tác phẩm hoàn toàn vô lý và mù mờ" hoá ra lại giống như một lời kết luận cho chính bài viết của bà.
 |
| Trang bìa cuốn sách. |
Từ chỗ không hiểu nội dung của Gió lẻ ở mức tối thiểu như vậy, bà Cảnh không còn đáng tin cậy khi phân tích dài dòng về chủ nghiã hiện sinh mà bà đã ra công áp đặt lên Gió lẻ.
Vâng, "Câu chuyện kết thúc đen tối và ảm đạm”. Và, nó chính là thành công của Gió lẻ. Tôi mừng, vì Nguyễn Ngọc Tư đã bớt đi phần nào cái màu hồng lồng lộng trong những truyện ngắn trước kia. Hồn nhiên và tự do như gió, "ướm chân vào mùa", chu du vào cõi lạ của ngôn ngữ và trí tưởng tượng, Nguyễn Ngọc Tư thật sự đã làm rung động lòng người bởi những thử nghiệm và khám phá mới của mình.
Như trên đã nói, mặc dù có chi tiết buồn nôn, có cái chết lao xuống vực thẳm, Gió lẻ cuả Nguyễn Ngọc Tư không chịu sự ảnh hưởng nào của các ông Jean Paul Sartre và Albert Camus. Và chính vì vậy, câu nói này cuả bà Cảnh có lẽ hợp lý: "Đọc Gió lẻ nhớ J. P. Sartre và Camus, tôi đang làm một việc hết sức ngu ngốc là chứng minh rằng Nguyễn Ngọc Tư hiện tại nhỏ bé quá so với hai người vĩ đại kia ư?".
Sẵn đây tôi cũng thưa luôn với bà Cảnh là không cứ phải ở đô thị thì ông thần Hiện sinh mới hiện ra. Ông thần đó đã hiện ra từ những thời gian xa xưa, khi một người có tên Tất Đạt Đa dứt áo ra đi muốn tìm Lẽ thật, hay khi một Shakespeare cứ bắt Hamlet ám ảnh khán giả hoài "To be or not to be?". Rồi một ngày có một ông J. P. Sartre ở Kinh đô Ánh sáng đã lại mở cửa đón ông thần Hiện sinh. Nhân loại chao đảo một hồi. Có kẻ cho là nạn hồng thủy, người khen là làn gió mới. Nhưng gió tang bồng, cứ tang bồng, mà thi sĩ thì vẫn cứ nằm im trong nhà tù thôi. Bởi thi sĩ không biết rằng Tự Do là Tự Do. Có một thứ Tự Do nào được quy ước và trình bày bằng quá nhiều từ ngữ hóc búa, vô vị và nhờ đó mà tồn tại đời đời không?
Bùi Giáng hiện sinh mà chẳng bàn tán hiện sinh. Bằng không, biết đâu thi ca Việt Nam đã chẳng thể nào có một di cảo Bùi Giáng. Cho nên những câu nói "Phải sống và cảm nhận đúng nghĩa hiện sinh trên cơ sở một môi trường đẩy con người xa dần bản thể, môi trường dồn ép cực độ của bản năng thì "chất hiện sinh" đó mới chín muồi." hoặc "Rõ ràng không khó để thấy môi trường đô thị phù hợp với việc tiếp nhận tư tưởng hiện sinh" chỉ là những lập luận mang tính cách áp đặt rất máy móc, chưa nói là bóp méo tư tưởng hiện sinh.
Nghe ra cứ như thể phải đô thị hoá càng sớm càng tốt, vì chỉ có như vậy thì nhà văn cả nước mới có thể có điều kiện hấp thụ tư tưởng hiện sinh. Lo làm sao, khi Nguyễn Huy Thiệp đã khai lý lịch giữa buổi họp ở nước ngoài: "Tôi là một nhà văn sinh ra ở nông thôn, mẹ tôi là nông dân". Liệu nhà văn mà tôi rất yêu thích này có sẽ được đô thị hóa kịp thời không nhỉ?
Phê bình, trong mọi lĩnh vực kể cả văn học, dĩ nhiên đòi hỏi sự nghiêm túc, gắt gao trong phân tích và lý luận. Nhưng điều này chắc chắn không giống như cái kiểu trù dập, ra tay tàn độc, rồi khẽ khàng đạo đức giả: "Sự độ lượng của nghiệp văn chính là ở việc có thể tin vào tài năng bằng một tác phẩm vĩ đại, nhưng lại không thể phủ nhận một nhà văn bằng một tác phẩm có 'sạn'."
Gió lẻ không hoàn hảo ư? Hãy dành riêng để nói về điều này cụ thể hơn trong một bài viết khác. Trong khi chờ đợi, tôi tạm thời "nghi ngờ" rằng, bởi trong đôi mắt tinh nghịch và rất ranh đời của nữ sĩ Cà Mau này không có cái đẹp đạt đến sự hoàn mỹ:
"Đàn bà, hễ mũi xấu thì mắt đẹp, mắt mũi xấu thì miệng đẹp, mặt xấu thì dáng đẹp, người xấu tâm hồn đẹp. Bằng cách này hay cách khác, họ cứ phải đẹp". (Có con thuyền đã buông bờ - Nguyễn Ngọc Tư)
Ý kiến của bạn?
|