Tranh luận

Thứ năm, 27/01/2005, 09:08
 

Oằn mình với Nguyễn Hòa và văn chương Việt Nam 2004

Vương Văn Quang

Gần đây, một loạt bài của tác giả Nguyễn Hòa đăng trên eVăn như: Cảm luận kỳ dị về thi pháp phương Đông, Phê bình sự phê bình có tính văng mạng... thật thú vị, và đặc biệt, bài Văn chương Việt Nam 2004 - oằn mình giữa nhập nhoà cũ mới. Với lối viết dí dỏm, cộng với sự hiểu biết thời sự văn chương của “người trong chăn”, Nguyễn Hòa đã dọn cho độc giả quan tâm đến thời sự văn chương một bữa tiệc thật thịnh soạn. Tuy nhiên, có một số điều, tôi cảm thấy chưa được thoả mãn; có vấn đề tôi thấy cần trao đổi lại và những đồng cảm xin được chia sẻ.

Văn xuôi - “tiếng vang” dăm bảy đường khác

Về mảng truyện ngắn, trong bối cảnh chung không có một cây bút mới nào đáng chú ý thì việc trao giải cho những tên tuổi đã được định hình, là một lựa chọn an toàn, chả có gì phải bàn. Còn chất lượng thực sự của những tập truyện được giải thế nào, lại là chuyện khác, không dám lạm bàn.

Về 29 truyện ngắn vào chung khảo của cuộc thi báo Văn nghệ, tôi không hề thất vọng, bởi ta chỉ thất vọng khi đã kỳ vọng. Vẫn là những dạng truyện mà dung lượng 5.000 chữ thì chỉ cần đọc chừng 50 chữ là sẽ biết câu chuyện diễn biến và kết thúc ra sao, tác giả sẽ viết thế nào và đưa ra những “thông điệp” gì.

Trong mấy truyện được Nguyễn Hòa dẫn ra, Mười ba bến nướcCơn mưa hoa mận trắng là hai truyện khá, song tôi không mấy tin tưởng, rằng nó sẽ “trường thọ”. Nguyễn Hòa tỏ ra khá dễ dãi khi đánh giá Như gốc gội xù xì xứng đáng “một phần hai giải Nhất”, có lẽ là do cảm tình riêng chăng? Nếu gọi Ván bài “tỉ điểm tử” là một sản phẩm của kỹ thuật (tính kỹ thuật là một yêu cầu hết sức quan trọng trong sáng tạo văn học nghệ thuật. Nếu không muốn nói là yêu cầu cao nhất), thì đây là kỹ thuật của anh sửa xe đạp, trong bối cảnh các bác nông dân lượn lờ xe máy đi thăm đồng.

Về tiểu thuyết, khi đọc tên mấy tác phẩm, tôi chợt chạnh lòng. Có một thời những tiểu thuyết gia của ta “oách” lắm chứ. Nào là Nỗi buồn chiến tranh, nào là Mảnh đất lắm người nhiều ma... Nằm "chiếu dưới" một chút, nhưng cũng không kém phần là Cơ hội của chúa, Bến không chồng... vậy mà bây giờ... Nếu thật công bằng, thì trong năm qua, ngoài mấy cuốn của Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương... thì cuốn đáng nhắc tới phải là Tấm ván phóng dao của “anh hề” Mạc Can, mà điều đáng nhắc tới nhất là tác giả này cho ra tiểu thuyết đầu tay ở độ tuổi ngoài “thập lục hoa giáp”. Đáng nể quá đi chứ!

Về ba tác phẩm mà theo Nguyễn Hòa là “gây tiếng vang” tôi thấy không có gì bàn cãi. Có chăng lại ở chính những nhận xét của Nguyễn Hòa. Nhân trường hợp chị thỏ bông, thì Phan Thị Vàng Anh viết giỏi quá đi rồi, khen tác giả này thì có mà... khen cả ngày. Có điều, tôi thấy Nguyễn Hòa “chê” chị rằng “thiếu cái nhìn lịch sử”, mà không thấy anh đưa ra dẫn chứng cụ thể. Nhưng theo tôi, Nhân trường hợp chị thỏ bông mặc dù gây tiếng vang, nhưng nó vang vì tính thời sự trong đó. Đây là tuyển tập mang tính báo chí nhiều hơn là văn học.

Việc xếp Đỗ Chu ngang với Thạch Lam, Vũ Bằng, là ý kiến cá nhân của Nguyễn Hòa, anh có quyền làm việc đó, nhưng đọc tới đây, tôi không khỏi ngắm nghía song song cái Tản mạn trước đèn với cái Thương nhớ mười hai, và một lần nữa tôi lại chạnh lòng.

Đáng bàn nhất là mấy nhận xét của Nguyễn Hòa về tiểu thuyết Thiên thần sám hối. Anh viết: “Thiên thần sám hối được chú ý không phải vì nó xuất sắc, mà chủ yếu do trong đó tác giả phơi bày mặt xấu trong quan hệ con người, quan hệ xã hội đương thời và sự tha hóa một số giá trị tinh thần trong các quan hệ ấy...”. Ô hay, nếu tác giả đã phơi bày được những mặt xấu trong những quan hệ con người, quan hệ xã hội đương thời và sự tha hóa một số giá trị... thì nó quá xuất sắc là đằng khác chứ? Nó chỉ không xuất sắc khi mà tác giả có ý định nói về điều đó, nhưng viết không ra, không thể phơi bày được mà thôi. Lại nữa: “Nhân vật của Tạ Duy Anh nằm trong bụng mẹ để nghe ngóng sự đời, đấy là một sáng tạo. Tiếc thay, tác giả lại cho phép cái ‘anh cu’ chưa chào đời ấy ngẫm ngợi, suy tư như một ‘ông cụ non’, làm cho tình huống trở nên ‘tréo ngoe’, và ‘anh cu’ trở thành một phát ngôn viên của một ‘người lớn thu nhỏ”. Ô kìa, đã đánh giá việc cho cái bào thai “nghe ngóng sự đời” là một sự sáng tạo, vậy tại sao lại không cho nó “ngẫm ngợi suy tư như một ông cụ non”? Bởi vì cái bào thai mà biết “nghe ngóng sự đời” thì nó có thể làm bất cứ cái gì, chứ chẳng phải chỉ có “ngẫm ngợi suy tư” mà thôi đâu. Có thể nói, chính nhận xét này của Nguyễn Hòa mới là “tréo ngoe”. Việc Nguyễn Hòa cho rằng Tạ Duy Anh đã dùng ngôn từ khá “bụi bặm”, thứ ngôn từ mà theo Nguyễn Hòa thì “không biết có nên đưa vào văn chương hay không”, khiến tôi thấy hoang mang quá. Tại sao cuộc sống thì đầy bụi bặm mà văn chương lại cứ láng mịn, nhẵn thín, thơm như múi mít là cớ làm sao? Tôi nghe nói, văn chương là cuộc sống cơ mà? Thật là khó hiểu.

Thơ - “cũ” hay “mới” cũng nản lòng người đọc. Nhưng...

Thơ đang lạm phát, ai cũng làm thơ, mỗi năm cả nghìn tập thơ ra đời, vì vậy, chất lượng bát nháo cũng là điều dễ hiểu. Nhưng biết làm sao, “dân ta có truyền thống thi ca” mà. Người ta làm thơ, rồi người ta bỏ tiền ra in, âu đó cũng là cái quyền của người ta. Nhưng chính trong bối cảnh đó, thi sĩ thật sự càng dễ nổi bật chứ sao? Vậy tại sao người đọc ngoảnh mặt với thơ? Câu trả lời có lẽ cũng đơn giản thôi, rằng hiện tại, không có gương mặt nào, thi phẩm nào “đích thực”, những bài thơ mà “thơ con cóc” phải tôn làm sư tổ vẫn hiên ngang nằm trên các báo, từ chuyên về văn nghệ như Văn nghệ, Văn nghệ Trẻ, hay các báo không chuyên khác.

Về ba tập thơ mà Nguyễn Hòa cho là "đọc được", theo tôi nó... chả đọc được (đây chỉ là nhận xét theo “gu”. Nói chung, dù kiến thức uyên thâm tới đâu, thì việc thẩm văn chương thơ phú bao giờ cũng phụ thuộc rất lớn vào “gu”, tức cảm nhận cá nhân). Nói về thơ được xuất bản chính thức, có lẽ, trong năm qua không có tập nào đáng kể. Lần ngược về trước mấy năm, thật sự đáng kể, theo tôi chỉ có tập Linh của Vi Thùy Linh, Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư và Chất trụ của Nguyễn Hữu Hồng Minh là thật sự đọc được, ba tập này có chỗ đứng trong lòng độc giả. Như vậy, độc giả không phải hoàn toàn quay lưng với thơ. Phải quay ngược về trước năm 2004, là để thấy rằng, thơ - cụ thể là thơ trẻ, đang có một sự vận động rõ ràng. Nếu để ý, thì năm qua, một loạt gương mặt thơ trẻ xuất hiện trên eVăn cũng cho độc giả thơ một cái nhìn lạc quan.

Đọc đoạn viết về văn chương hậu hiện đại (post-modernism), tôi thấy có sự “nhầm lẫn”. Về điều này, tôi để ý, nhiều “nhà” to tướng hẳn hoi, vẫn rất mù mờ về chủ nghĩa hậu hiện đại, văn học hậu hiện đại. Họ cứ quan niệm rằng hậu hiện đại tức là “sau hiện đại” và lập tức liên hệ tới... lối sống Mỹ (!?).

Thực tế, một số sáng tác của các nhà văn như Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh... đã sử dụng những kỹ thuật của văn học hậu hiện đại (như hiện thực huyền ảo). Và, hậu hiện đại không là một lý thuyết cứng nhắc, nó sinh ra từ chính bối cảnh xã hội hiện đại. Theo tôi, cái quan trọng nhất của văn học hậu hiện đại là tính dân chủ, phân mảnh, giải trung tâm. Điều này hoàn toàn có lý. Làm gì còn những “khái quát”; “biểu tượng”... bao trùm lên tất cả. Có thể nói, xã hội ta hiện nay cũng đang là một xã hội “hậu hiện đại”, một kiểu “hậu hiện đại” của riêng ta, được sinh ra từ cái xã hội “hiện đại” kiểu ta. Vì thế, chả có lý do gì, văn học hậu hiện đại không có tiền đồ ở Việt Nam.

Lý luận phê bình - hy vọng đang lấp ló phía... chân trời

Việc hiện nay, nhiều người kêu gọi phê bình phải thế nọ, phải thế kia, phải đổi mới... là những tiếng kêu mang nặng tính... làm duyên. Thực tế, phê bình của chúng ta chưa bao giờ làm đúng chức năng của nó, nói cách khác là chúng ta chưa có một nền phê bình. Nếu có, là một nền “phê bình” manh mún, tủn mủn. Thời kỳ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa độc tôn, thì đương nhiên, phê bình là phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi "hiện thực xã hội chủ nghĩa" tỏ ra bất cập thì phê bình trở nên hụt hẫng. Sự tủn mủn gần đây càng được thể hiện rõ khi mà một tập hợp những bài điểm sách cũng được gọi là tác phẩm phê bình, dạng sách như Chân dung và đối thoại cũng gây dư luận, hay “tầm cỡ” như Thơ phản thơ thì đoạt giải lý luận - phê bình của hội nhà văn. Thực ra, mọi việc đều diễn biến rất logic. Thật vô lý khi trách cứ phê bình, trong khi mảng sáng tác thì cứ vô tư mà bí bét. Vì thế, có thể nói, năm 2004 phê bình của chúng ta rất "vui vẻ", với những sự kiện có thể coi là “gây chấn động” như các vụ Hoa thủy tiênHoài Thanh cũng đạo văn?Phê phán sự phê phán có tính phê phánBa đỉnh cao thơ mới...

Việc nhà phê bình Trần Mạnh Hảo "đến tuổi ngót ngét sáu mươi", "vẫn chưa muốn ngừng nghỉ, vẫn làm văn đàn bất ngờ vì không biết giới hạn cuối cùng của anh ở đâu" (Nguyễn Hòa) cũng là một sự kiện đáng chú ý. Và công bằng mà đánh giá, thì tất cả những ai được ông Hảo “hầu chuyện”, được ông “phê phán” có lẽ đều phải cám ơn ông mới đúng. Nói phải tội, những vị giáo sư, tiến sĩ... nếu không có ông Hảo "hầu chuyện" thì có lẽ tên tuổi họ cứ mãi nằm ở các chốn "thâm nghiêm" như trường đại học, viện nghiên cứu... chứ bao giờ đám công chúng bình dân mới biết đến tên? Rồi thì những công trình, tác phẩm như Ba đỉnh cao thơ mới, hoặc giờ đây là tập Thơ Dương Tường nếu không nhờ ông Hảo thì mấy ai biết đấy là đâu? Thiết tưởng, nếu Hội nhà văn có giải thưởng “Con người - cây bút đáng yêu nhất trong năm” thì khó có ai cạnh tranh nổi với ông Hảo.

Giải thưởng văn chương - chiếc lá xanh hiếm hoi... Màn tấu hài thành công bất tận

Việc phân định đâu là “lá xanh” đâu là “lá vàng” vốn là sở trường của rất nhiều người, năm nào người ta cũng viết, cũng bàn cãi về nó. Nói chung, đây là vấn đề khá cũ, vì thế có cho tác phẩm A là “lá xanh hiếm hoi” hay tác phẩm B là “lá vàng rơi đầy”, thì cũng chả thuyết phục được mấy ai. Tóm lại, có xanh hay vàng thì chúng cũng đều nằm trong đống lá cả.

Trong tình hình chung, thi văn chương, ông bố trao giải cho ông con; ông chồng trao giải cho bà vợ, âu cũng là bình thường. Có khi, qua việc này, người ta sẽ thấy rằng, tình gia đình trong văn giới thật đầm ấm mặn nồng.

Những khoản tiền dành để trao giải, hay tài trợ cho các công trình nghiên cứu, đều là tiền nhà nước, tức là tiền của dân, tức là của “mọi người”, có nghĩa là chẳng của ai. Từ đây, có thể thấy, cái Miệt vườn xa lắm dù cho phẩm chất văn chương của nó có xa lắc xa lơ thì đã chết ai? Vừa làm vừa nghĩ chỉ là tác phẩm thuộc loại "tổng hợp kinh nghiệm" thì cũng có gì là quan trọng? Và, nó được giải trên tư cách một tác phẩm lý luận - phê bình, thì coi như đây là một bằng chứng cho thấy rõ tầm vóc phê bình - lý luận nước nhà.

Nhìn lại binh tình các cuộc thi thố, thì cái nhận xét của một nhà văn mà Nguyễn Hòa trích dẫn thật đáng ngờ. “Giải thưởng giả không ít” thì chắc chắn rồi, nhưng liệu có thật là “giải thưởng thật rất nhiều”? Nhân đây, cũng muốn thắc mắc luôn với nhà văn này khi anh phát biểu: “Đã là người sáng tác hay thường là thẩm văn tốt. Nói người viết tàng tàng mà thẩm văn tốt thì thật khó mà tin được”. Vậy, theo nguyên lý này, ta suy ra: Sáng tác hay = thẩm văn tốt. Sáng tác tàng tàng = thẩm văn tàng tàng. Không biết sáng tác = không biết thẩm văn. Có thể hiểu là, độc giả không biết thẩm văn?

Những nhiễu loạn “bình thường” ... ! - thay cho lời kết

Việc ai cũng viết văn, ai cũng làm thơ, ai cũng viết phê bình, xét cho cùng là một hiện tượng... đáng mừng. Việc giãi bày, phát biểu, là quyền của mỗi người. Và, trong bối cảnh đó, nếu “nhà” nào là ngôi sao thực sự, thì càng dễ tỏa sáng chứ có sao đâu? Chỉ e rằng, các “nhà” với gánh nặng tên tuổi và bằng cấp trên vai, lại tỏ ra chả hơn gì ai, và như thế, những lời phàn nàn, rằng ai cũng thơ, văn, phê bình... bát nháo quá, nhiễu loạn quá, chỉ là những lời... làm duyên mà thôi.

TP HCM, 24/1/2005

Các bài khác:
 

‘Gió lẻ’ không chịu ảnh hưởng của J.P. Sartre và A. Camus

Trần Đăng Khoa lảo đảo về miền thi ca

Sex trong 'Rừng Nauy' không chỉ có vậy

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z