Phê bình

Thứ ba, 02/06/2009, 11:24
 

Trần Anh Thái với thi pháp của lửa

Đoàn Ánh Dương

Anh tìm lửa đâu soi đâu ngày tháng
(Giấc mơ)

Nếu ai hỏi tôi, điểm nổi bật của đời văn Trần Anh Thái là gì? Tôi không ngại ngần trả lời: đó là Trường ca. Nếu ai hỏi tôi tiếp, cái làm nên sức sống của trường ca Trần Anh Thái là gì? Tôi cũng không đắn đo: đó là Lửa.

Đó là ngọn lửa của tình yêu, sáng loé và bồng bột, mang truyền thống chiếm đoạt của thần Aphrodite. Đó còn là ngọn lửa trái tim Danko, ngọn lửa của trí tuệ, nồng đượm và trầm nghị, mang truyền thống hy sinh của thần Prometheus. Cả hai phẩm tính này của lửa xoắn luyến với nhau làm nên nguồn thơ Trần Anh Thái.

Trong bóng tối của những điều chưa biết là ánh sáng. Ánh sáng ở nơi chưa có con đường. Cái khát khao được chiếm lĩnh trọn vẹn khiến thơ Trần Anh Thái cuồng nhiệt mỹ hóa khách thể. Lối hình dung “đốt đuốc chơi đêm mảng tiếc xuân” là cái bồng bột trong tình yêu của anh. Nó làm một đối ứng cho sự suy tư càng thêm sâu lắng. Không có ai đốt lửa trước con đường, chỉ có niềm hy vọng cháy lên. Sức mạnh bàn chân ở nơi thẳm sâu niềm trắc ẩn, ngân nga nơi dấu chân tổ tiên, nơi những câu chuyện buồn không dứt. Đi! Dừng lại là đắm chìm, là hoang mang cay đắng, là tiếng vọng xa xăm lạnh buốt cõi người. Không có bờ sóng vỗ vào đâu? Thơ Trần Anh Thái luôn láy đi láy lại những cật vấn ấy. Điều gì anh cũng muốn được hiểu đến thấu đáo, đến kiệt cùng. Anh bắt ngôn ngữ thơ làm thay ngôn ngữ triết, đào bới vào bản thể sự vật để chỉ lấy một ý tưởng trong nó, như vàng ròng. Nhưng ngay khi vươn tới được điều ước mơ thì anh lại bộc lộ cảm xúc một cách cuồng nhiệt, ngôn ngữ thơ anh trở nên háo hức, vồ vập, xúc cảm lôi cuốn xúc cảm, lời bày ra ngồn ngộn như mâm cỗ. Bởi vậy, thơ Trần Anh Thái luôn níu vào nhau ở những đăng đối tự trong bản chất, không tương hỗ thì tương phản, luôn song hành, luôn cặp đôi. Anh cho đi nồng nàn để muốn được vọng về đủ đầy. Anh muốn vắt kiệt mình để thơ phơi bày được mọi chiều cạnh. Anh vừa đặt con người vào vị thế kỳ vĩ trong vũ trụ: Người đứng lên đổ bóng xuống mặt trời. Nhưng ngay lập tức anh lại thu họ vào vị thế nhỏ nhoi trong thế giới: Người che nỗi suy tư vào đêm đêm huyền thoại. Thơ, vì thế, với Trần Anh Thái, bí hiểm như tôn giáo nên cũng thẳm sâu như tâm hồn. Ngọn đuốc tuệ của tôn giáo thơ thắp sáng tâm hồn con người ở những điều cao siêu nhất nên cũng ủ ấp tâm hồn con người ở những điều giản đơn nhất. Đó là tôn giáo duy ở điều rung động, ở trạng thái đủ đầy và phức tạp nhất.

Nhà thơ Trần Anh Thái.
Nhà thơ Trần Anh Thái.

Trường ca của Trần Anh Thái thể hiện tập trung và rõ rệt đặc điểm này. Rất ít “cái kể” trong trường ca Trần Anh Thái. Cốt truyện sự kiện bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến cao trào. Trần Anh Thái tổ chức trường ca theo một cấu trúc song song và ứng đối nương theo dòng cảm xúc. Vì thế, đọc trường ca của anh, người ta bị lôi cuốn vào dòng cảm xúc khi thì lắng lại, khi thì cuộn trào. Ở đấy, Trần Anh Thái không độc hành trên lộ trình của mình, người đọc rất thường khi được tham gia vào chuyến du hành ấy theo kiểu lây lan cảm xúc của người cùng hội cùng thuyền, hoặc giả, của người quan sát, cảm nhận một điểm dừng trên lộ hành ấy. Trần Anh Thái giữ vai trò là một người nhóm lửa. Đống lửa của anh luôn cởi mở cho người khác đặt những cành củi của họ vào để cùng bùng cháy. Với người sợ lửa, hay khắc lửa, đống lửa ấy không áp đặt cái nóng nực của mình. Đó là lúc nó liu riu cháy để người ta dù không ưa thích cũng thấy nên trân trọng đứng bên quan sát cái đam mê của người giữ lửa.

Trước Trần Anh Thái, trường ca Việt Nam đã có cả một bề dày truyền thống. Có những tác phẩm đã trở thành dấu ấn văn học một thời như Bài ca chim Chơrao của Thu Bồn; Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm; Đường tới thành phố, Trường ca biển của Hữu Thỉnh; Những người đi tới biển của Thanh Thảo; Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu… Cái làm nên khác biệt của trường ca Trần Anh Thái so với họ là cấu trúc tự sự trong trường ca của anh dựa hoàn toàn vào cảm xúc, lấy cảm xúc làm mạch chủ đạo, mạch sự kiện chỉ nảy sinh nhờ liên tưởng. Trong khi, cấu trúc tự sự trong trường ca trước Trần Anh Thái lấy sự kiện làm mạch chủ đạo, mạch cảm xúc chỉ nảy sinh như trữ tình ngoại đề.

Có hai nguyên do cắt nghĩa cho đặc điểm này. Thứ nhất, là kiểu thơ tự sự cỡ lớn, trong quá trình hoàn thiện thi pháp thể loại của mình, trường ca không thể bỏ qua lợi thế mà cốt truyện tự sự có thể đem lại, điều mà diễn ca đã là một bài học kinh nghiệm điển hình. Thứ hai, là kiểu thơ mang âm hưởng anh hùng ca, lại đang hình thành trong bối cảnh của đời sống cách mạng dân tộc/ tổng kết cuộc cách mạng dân tộc, chất liệu của câu chuyện lịch sử là một kho tư liệu phong phú. Nên ngay từ tên trường ca, đã thấy dấu hiệu của cái đã xảy ra, của quá trình: bài ca, khát vọng, đường tới, đi tới, sư đoàn… Đó là một đặc điểm có tính phổ quát của trường ca trong và mươi, hai mươi năm sau chiến tranh. Trường hợp khác biệt của Trường ca biển (1994) của Hữu Thỉnh so với chính Đường tới thành phố (1978) của ông và phong cách trường ca thời chiến tranh và hậu chiến không chỉ là biểu hiện của ý thức cách tân tự thân, mà còn là một xu thế biến đổi của cấu trúc thể loại. Đó là những manh nha để sau đó dăm năm, xu thế giải truyền thống, giải điển hoá phong cách thể loại đã thành tựu ở Đổ bóng xuống mặt trời của Trần Anh Thái và Trầm tích của Hoàng Trần Cương. Và cho đến bây giờ, với Trên đường (2004) và Ngày đang mở sáng (2008), Trần Anh Thái bền bỉ cho lựa chọn của mình, ngọn lửa thi ca trong anh vẫn luôn được nâng niu, ủ giữ.

Sự khác biệt về mặt cấu trúc tự sự của Trần Anh Thái so với thế hệ đi trước không giản dị ở chỗ ngay từ cái tên tác phẩm đã thấy cái đang xảy ra, cái đồng hiện (đổ bóng, trên đường, đang mở) mà là ở cấu trúc bề sâu của văn bản tự sự. Và chính ở chỗ này, thi pháp của lửa mới bộc lộ hết cái nồng nhiệt ở tâm can và các hình sắc ở vũ điệu. Trường ca của Trần Anh Thái, nhất là Đổ bóng xuống mặt trờiNgày đang mở sáng, là một lễ hội của lửa. Lửa sâu thẳm của nghi lễ cổ xưa, rừng rực của vết thương chiến tranh chưa xa, chát bỏng của nước mắt hiện tại. Tái nhận thức trở thành một nhu yếu. Chính vì thế, thơ Trần Anh Thái là một độc thoại nội tâm triền miên. Vọng trắng, Độc thoại trắng là âm điệu chủ đạo, một chủ âm trong thơ Trần Anh Thái. Tất cả thơ anh bị xoáy hút bởi một cắc cớ: Anh tìm lửa đâu soi đâu ngày tháng. Lửa ở đâu? Soi rọi ở đâu? Ngày tháng dài dặc kia là nguồn lửa hay là nơi cần ánh sáng ngọn lửa? Và thơ anh “ngộ” ra một điều: ngày tháng bao chứa tất cả. Bởi ngày tháng là lịch sử: tổ tiên, làng xóm, đất nước, chiến tranh, hoà bình, em, tôi. Quê hương này, dòng giống này cho ta nguồn lửa, ta bắt lửa thành đuốc lửa, rọi ánh sáng vào hốc hác thẳm sâu mà nguồn lửa bị chính bóng của nó khuất lấp.

Tôi sẽ không khảo sát hết ở đây những dấu vết của lửa trong thơ Trần Anh Thái. Tôi sẽ bỏ qua những đốm lửa bắn ra tí tách từ đống lửa không bởi chúng kém đẹp đẽ, vũ điệu của chúng kém hấp dẫn, kém lung linh. Chúng giàu có và phong phú. Nhưng tôi buộc phải bỏ qua để chỉ đi vào hai cặp đối ứng của lửa: lửa khởi hoang - lửa chiến tranh trong Đổ bóng xuống mặt trời; lửa chiến tranh - lửa hoà bình trong Ngày đang mở sáng. Từ đó, nếu đặt thêm Trên đường, với tư cách như một tuyên ngôn nghệ thuật, vào tổng thể trường ca Trần Anh Thái, tôi có được một cấu trúc “kép”, hai tầng bậc của khởi nguyên “Ba ông đầu Rau” của lửa. Đó là ba trường ca ở bề mặt, là “tam vị nhất thể” lửa khởi hoang - lửa chiến tranh - lửa hoà bình ở bề sâu. Cái căn bản làm nên hồn thơ Trần Anh Thái.

Đổ bóng xuống mặt trời trước hết là cấu trúc chủ đề được tác giả đặt thành các phần: Khởi hoang - Tiếng vọng - Năm bốn nhăm - Ấu thơ - Đất làng - Chiến tranh - Trận đánh - Ngày về - Tiếng vọng. Chính sự thiên về xúc cảm đã khiến cấu trúc chương mục trở nên linh động hơn. Thử tái cấu trúc theo mạch ngầm đã chỉ ra ở trên, theo mạch khởi hoang, có: Khởi hoang - Đất làng - Tiếng vọng; mạch chiến tranh, có: Chiến tranh - Trận đánh - Ngày về - Tiếng vọng; Ấu thơ Năm bốn lăm như là bản lề, khoảng giao nối giữa nhân vật trữ tình và làng quê, Tiếng vọng là nghiệm sinh ở mỗi mạch cảm hứng. Tôi sinh ra từ huyền thoại về làng. Nhân vật trữ tình sống với làng quê qua huyết thống, qua huyền thoại được nghe kể lại và cũng là người trực tiếp tham gia chiến tranh. Những ngọn lửa đầu tiên dựng làng da diết bao nhiêu thì ngọn lửa đầu tiên của chiến tranh huỷ diệt đất nước nhức nhối bấy nhiêu trong tâm cảm nhân vật trữ tình. Trong cái vinh quang lập làng lập nước luôn có nỗi đau của sự hy sinh. Trong niềm vui chiến thắng vệ quốc luôn có nỗi buồn của sự mất mát. Vì vậy, song hành với lửa khởi hoanglửa chiến tranhlửa nhang trên ban thờ. Trong huyền thoại về làng, ngọn lửa như reo vui khi làng được lập: Ba ông đầu Rau dựng làng thuở ấy/ Lửa bừng lên ngọn sóng/ Lửa tràn cõi lang thang/ Lửa dịu ngày cơ nhỡ/ Bát cơm hun khói trộn than/ Lửa xua cơn run rẩy/ Lửa tan dần âu lo/ Lửa đốt phiến đá xanh khắc hình vào đá… Nhưng làng và “cánh đồng mọc ra từ máu thịt ông bà” nên “lửa đậu đêm đêm ban thờ tiên tổ”. Đó là biểu thị của lòng biết ơn ông bà tiên tổ, sự gắn kết con người với truyền thống. Và với riêng làng của nhà thơ: Những nén nhang đền Vọng sáng đêm ngày/ Ban thờ mỗi ngôi nhà cháy đỏ. Làng sinh thành, sinh sôi và làm nên đất nước.

Bủa vây tâm hồn người lính hậu chiến là nỗi ám ảnh của đêm đen quá khứ. Trở về ngôi làng của mình, họ mới ý thức hết rằng chiến tranh không chỉ là màn đêm tang thương nơi chiến trường mà hy vọng chiến thắng, an lành cũng trở thành “vì sao đang thức trong những ngôi nhà phía làng không ngủ”. Chiến tranh là đêm dài mất ngủ. Chiến tranh không chỉ hiển hiện ở nơi xa xôi, nó đau đáu trong ngôi làng đất Việt. Người lính hy sinh rồi một ngày sẽ hòa mình vào đất sa trường nhưng đất làng mất đi người con nỗi đau luôn đọng lại, dằng dai: Ba mươi lần người đời sắm ngựa hồng, giày nhung vàng mã…/ Chị chẳng có cho mình/ Nắm đất thắp nhang riêng. Nấm mồ có tên, làng còn tìm được linh hồn đứa con của mình. Nhưng còn biết bao nấm mồ vô danh khác: Cây vàng mã mua cất vào góc tủ/ Chị sợ đốt rồi hương khói sẽ bay đâu. Với những câu thơ xé lòng như thế, quầng lửa sa trường ác nghiệt hơn hay đốm lửa lập lòe ban thờ ác nghiệt hơn? Ai thấu hiểu thẳm sâu nỗi đau ấy? Người lính hậu chiến trở thành “tượng đá suy tư” trong nỗi cô đơn tuyệt đỉnh của mình. Họ giấu nỗi suy tư ấy vào đêm cho riêng mình nhưng chính trong đêm đen mà ánh lửa thêm tỏa rạng. Trong ngôi làng Việt, họ trở thành “những loài hoa lặng lẽ nở về đêm”. Và đó chính là loài hoa lửa.

Đổ bóng xuống mặt trời đã được kết cấu như thế. Từ cái gốc đêm suy tư mọc ra các cành nhánh vươn về huyền thoại lập làng và chiến tranh giữ làng. Ở hai cành giao thành lùm tán ấy, ánh lửa ngời lên. Ngày đang mở sáng tiếp nối từ gốc cội ấy. Sinh sôi từ ngọn lửa ủ sâu trong đất, trường ca bổ khuyết cho nhánh vươn về chiến tranh với việc mở rộng cảm nhận về chiến tranh sang cả chiến tuyến bên kia và tiếp thêm sức sống cho nhánh vươn về huyền thoại với việc mở rộng cảm nhận về đời đang hiện sống. Tất cả làm cho cội cây kia vươn thành cổ thụ với sức sống mạnh bền.

Không còn là ngọn lửa trực hiện, lửa trong Ngày đang mở sáng là lửa của niềm đau, của nước mắt. Đó là thứ lửa cháy bỏng của nước. 11 khúc của trường ca lần lượt mang các chủ đề: làng, mẹ và tuổi thơ - em và tình yêu tuổi thơ tôi - làng, tổ tiên và giấc mơ tôi - mẹ và em, chiến tranh và tình yêu tôi - chiến tranh, bạn và thù - mơ - người lính hậu chiến - cuộc sống thời bình - em và mưu sinh - đồng đội và em - mặt trời đang mở sáng. Không còn phân nhánh một cách trực hiện, trường ca không bật lên ánh lửasôi chảy thành dòng ở đáy sâu. Cái lạ nhất của trường ca là có một nguồn mạch không có dấu ấn của đề tài “quan phương”, của chất liệu bậc cao làm thành chất sử thi của trường ca: tình yêu trong sự vây bọc của đời thường. Đây là một thể nghiệm táo bạo, gợi mở khả năng chiếm lĩnh những phạm vi ngoài giới hạn của trường ca truyền thống, góp phần mở rộng biên độ thể loại. Nhưng đấy là một vấn đề lớn hơn sự chú tâm của bài viết. Chỉ có điều, đó lại là những vần thơ dằn vặt, nỗi đau mà cuộc đời đen bạc gieo rắc chẳng kém rát bỏng so với thương tích chiến tranh. Vượt lên cái phổ biến “vô cảm tiếng cười vô cảm ánh nhìn nhau”, khúc IX viết về cuộc mưu sinh là tiếng thơ đắng đót. Nó là nước mắt bỏng, nên cũng là lửa của trái tim nung nấu yêu thương. Đặt trong nguồn thơ Trần Anh Thái, sự có mặt của mạch thơ là một bổ trợ cần thiết trong việc chiêm nghiệm về đời sống, nó là nhựa ấm góp phần cho nhánh vươn về huyền thoại. Trong xu thế làm nổi bật cái hiện sống của cuộc đời, nó là lửa của thời bình, là huyết lệ.

Cái nổi bật và làm nên thành công của Ngày đang mở sáng vẫn thuộc nhiều hơn ở mạch về niềm đau của chiến tranh: Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết nối hàng/ Cái chết tiễn đưa nhau. “Chiến tranh không có con đường thứ ba” nên chiến tranh là nỗi đau nhức nhối, cho cả kẻ thắng và người bại. Cái chết chấm câu cho một cuộc chiến: Xác quân thù xác bạn gục vào nhau. Đó là một phần thực tế lịch sử mà những người lính từng tham chiếm không dễ nguôi ngoai. Bảo Ninh có truyện ngắn Lá thư từ Quý Sửu viết sâu sắc về chiến trường yên ngựa trộn xác bạn thù nhưng cũng là thân xác đồng bào đồng chủng. Trần Anh Thái cũng luôn bị ám ảnh bởi “nỗi buồn chiến tranh” ấy. Rừng xưa lá rụng đăm đăm, thơ Ngày đang mở sáng cất lời tang thương của cuộc chiến nồi da xáo thịt. Không ai có ý phủ định chính nghĩa cuộc chiến nhưng không ai được quyền phủ định sự hy sinh để có chính nghĩa. Bởi cái giá của cuộc chiến ấy là: Xác chết chồng xác chết đợi ngày. Trong tư cách người lính, anh nhận ra một thế hệ các anh: Kẻ thắng trận hai tay ông mặt khóc/ Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau. Và với riêng anh: Tôi đã viết như tôi đã chết/ Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau. Thương tích là lửa mà nước mắt cũng là lửa, cháy bỏng, rát bỏng, mãi mãi. Cái vô hình được đưa ra để lột hiện cái hữu hình. Với chiến tranh, nếu Bảo Ninh làm được thế nào ở văn xuôi, thì với thơ, Trần Anh Thái là một lời đồng điệu.

Có thể nói, từ Đổ bóng xuống mặt trời đến Ngày đang mở sáng, Trần Anh Thái đã đi xong chặng đường hậu chiến. Tái nhận thức được đặt ra và chỉ ra một cách sâu sắc, riết róng. Trên đường là cuộc thám phá vào quan niệm thơ, khẳng định ý hướng từ Đổ bóng xuống mặt trời và nhen nhúm cho khát vọng khai phá những mảnh đất mới cho trường ca. Kết quả của nỗ lực ấy là Ngày đang mở sáng. Và chính ở chỗ này, ngoài mô hình văn bản được tổ chức trên nền tảng cảm xúc, đã được coi như một đóng góp của Trần Anh Thái cho trường ca, anh tiếp tục ham muốn khơi mở trường ca vào những vấn đề của thế sự, đời tư. Liệu trường ca đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Câu trả lời nằm ở chỗ có hay không việc trường ca viết được và viết hay mà không cần nương vào âm hưởng hùng ca (mà dấu vết vẫn còn rất rõ trong Ngày đang mở sáng). Nghĩa là Trần Anh Thái còn tiếp tục trên đường. Song đi xa đến đâu, ấy còn do năng lượng lửa thơ anh có cháy lên mơ mộng nghệ thuật.

Hà Nội, 5/2009

(Tham luận tại Tọa đàm Trường ca Trần Anh Thái tổ chức tại Viện Văn học, ngày 04/06)

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z