Phê bình

Thứ hai, 30/10/2006, 09:33
 

Tâm trạng cá thể trong thơ Đường luật Ngân Giang

Đặng Hiển

Ngân Giang (1916 - 2002), nữ sĩ quê ở thôn Hướng Dương, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, được coi là nữ hoàng của thơ Đường luật vì trong ngót 4.000 bài thơ bà để lại thì đa phần là thơ Đường luật.

Thơ Đường luật vốn là thể thơ được sử dụng nhiều nhất trong thơ trung đại, nền thơ đã sản sinh ra nhiều thi tài kiệt xuất ở Trung Quốc, Việt Nam... Đó cũng là nền thơ có thi pháp riêng được quy định bởi vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan và thẩm mỹ quan của thời đại phong kiến Á Đông. Thi pháp đó có nhiều đặc điểm như sự tôn sùng thiên nhiên, tính quy phạm, tính ước lệ, tính phi dân chủ và tính phi ngã.

Trong các đặc điểm trên thì tính phi ngã gây nhiều tranh cãi nhất. Trong thời trung đại, ý thức cá nhân, do nhiều lý do xã hội và triết học, còn chưa phát triển, cái tôi của nhà thơ chưa được bộc lộ và khẳng định một cách quyết liệt. Tuy nhiên do đặc trưng của thơ, “sự thống nhất giữa cuộc đời nhà thơ và cái tôi trữ tình trong sáng tác là một hiện tượng khá phổ biến với thơ”[1] và tất nhiên cùng đi với cái tôi trữ tình ấy là cá tính sáng tạo của nhà thơ biểu hiện trong phong cách, hình thức nghệ thuật.

Tất nhiên những biểu hiện của cái tôi trong thơ trữ tình trung đại còn bị hạn chế bởi chính ý thức của nhà thơ và chịu sự ràng buộc, gò bó của hình thức thơ, trong đó có các phương tiện hình thức như kết cấu, niêm luật, cấu trúc ngôn ngữ...

Thời đại thay đổi, thơ và thi pháp cũng thay đổi theo, ý thức cá nhân và cái tôi trữ tình thời hiện đại đòi hỏi phải phá vỡ thi pháp cũ, hình thức cũ. Tuy nhiên, có một số nhà thơ thời hiện đại vẫn cứ dùng phương tiện hình thức cũ của thơ Trung đại (thơ luật Đường) để sáng tác thơ. Vậy phương tiện hình thức thơ cũ ấy có hạn chế họ biểu hiện những tư tưởng tình cảm mới, có ràng buộc sự bộc lộ của cái tôi thi sĩ (cái tôi đời tư và cá tính sáng tạo) không? Đó là điều mà các nhà nghiên cứu phê bình văn học và cả những người thưởng thức thơ đã đặt ra và đã giải đáp được phần nào. Không hề khiên cưỡng khi Hoài Thanh, Hoài Chân xếp Quách Tấn vào làng thơ mới và chọn tới 9 bài thơ (6 Đường luật thất ngôn bát cú và 2 tứ tuyệt) đưa vào tuyển tập Thi nhân Việt Nam, chỉ đứng sau Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư về số lượng bài, hơn cả người mở đầu thơ mới Thế Lữ. Như vậy nhà thơ đường luật Quách Tấn đích thực là nhà thơ mới mà đã là thơ mới, hẳn thi pháp của ông phải là thi pháp mới, nghĩa là cũng in đậm cái tôi. Nhà thơ Ngân Giang vì lý do nào đó chưa có mặt trong Thi nhân Việt Nam. Nhưng nay đọc gần 30 bài thơ của Ngân Giang sáng tác trước 1945 trong tập Lấp lánh sông trời, ta thấy có thể đem lời nhận xét của Hoài Thanh về Quách Tấn vận dụng vào thơ Ngân Giang: “(Người) đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía. Người đã thoát hẳn lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ”.

Thật vậy, ngay từ bài thơ đầu tiên của Tuyển tập Ngân Giang, sáng tác năm 1936, tôi đã thấy một nét rất riêng của đời tư nữ thi sĩ được đưa vào thơ một cách tự nhiên, chân thật: “Con lên hai, mẹ hai mươi/ Ngơ ngác buồn tênh giữa cuộc đời/ Gió táp, mưa lầm... ôi gió lạnh/ Đường về biết sẽ hỏi thăm ai?” (Đường về), rồi Lỡ hận (1939): “Có những đêm trăng, những buổi chiều/ Vách mờ in bóng chiếc xiêu xiêu”. Rồi Đợi tuy còn một số từ, một số câu ước lệ như: “Sợi tơ gẩy mãi rung cầm lạnh”, nhưng câu kết đã là một tứ thơ, một tâm thế trữ tình có nét riêng và nghệ thuật có sáng tạo riêng. “Ngoài thềm lạnh lẽo chim lên tiếng/ Vội kéo rèm hoa xuống nửa vời”. Kéo rèm hoa xuống nửa vời vì nửa muốn nghe tiếng chim biểu hiện của sự sống, nửa không muốn nghe vì tiếng chim như gợi nỗi cô đơn... Bài Khi gió heo may về có thể coi là một ví dụ về “bình cũ rượu mới”: “Chiều ấy tờ hoa đành lẻ ý/ Mùa này chim nhạn có chung đôi”. Tờ hoa, chim nhạn là những hình ảnh cũ nhưng “lẻ ý, lẻ đôi” là tình thực, cảnh thực của hai con người. Bài Tâm trạng thì hoàn toàn mới cả ý lẫn lời “ngày chưa sang thu đã thấy buồn/ Tình chưa ngời sáng đã hoàng hôn”. Có những bài viết về nhân vật lịch sử mà cũng có tâm trạng cá thể, tâm trạng của chính nhân vật lịch sử đó đã được “tôi hóa”. Đó là tâm trạng của Trưng Trắc khi thắng giặc, lên ngôi: “Chàng ơi/ Điện ngọc bơ vơ quá/Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi”. Tác giả đã hóa thân vào nhân vật đến mức tạo ra câu thơ rung động lòng người mãnh liệt. Chẳng thế mà nhà thơ, nhà giáo Đông Hồ khi giảng đến câu này đã xúc động đến đột quỵ! Cả đến Hán Vương trong Vương Tường cũng là một nhân vật ít nhiều có cá tính biểu hiện ở sự rung động trước nhan sắc cùng sự bất hạnh của cung nhân Vương Tường: “Trẫm thấy dường như trăng lạnh lạnh/ Tơ sầu kể lể chuyện hồng nhan/ Thiên tử say nhìn người quốc sắc/ Kiệu vàng ta chậm đón giai nhân”, không chỉ Vương Tường mà cả Hán vương cũng là nhân vật của thơ mới.

Từ Cách mạng tháng 8 trở đi, thơ Ngân Giang có 2 dòng: một dòng trữ tình công dân, một dòng trữ tình đời tư, trong đó dòng đời tư đậm hơn và có quan hệ chút ít, ở những mức độ khác nhau, với dòng công dân. Chính đặc điểm này làm cho thơ Đường luật của Ngân Giang không rơi vào tình trạng hòa tan mất cái tôi (dĩ nhiên với những bài thơ công dân thành công trong thơ 1945 - 1975, cái tôi nhà thơ cũng hòa vào cái ta công dân mà không mất đi, nhưng đó là với những bài thành công còn ở những bài không thành công, người ta chỉ thấy cái ta chung chung, khái niệm, thuần lý trí, đặc biệt ở những bài mà tác giả của nó dùng thể thơ cũ Đường luật thì sự thiếu cá tính, thiếu tâm trạng cá thể càng lộ rõ trong những khuôn ngôn ngữ sáo mòn). Ngân Giang không rơi vào tình trạng đó trong những bài thơ công dân như những lời chào cách mạng. Ví dụ Kính dâng các bậc anh hùng dân tộc mở đầu là sự phá cách: “Ta say uy vũ Trần Hưng Đạo/ Ta say sự nghiệp Hồ Chí Minh” và câu kết là dấu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai: “Mấy thuở không phai hồn chủng tộc/ Muôn năm cờ đỏ dựng thanh bình”. Tuy nhiên, sòng phẳng mà nói thơ trữ tình chính trị của Ngân Giang còn ít và không mới. Bài Xuân chiến địa có tình, nhưng lãng mạn quá, thơ mộng quá như phủ một màn trướng văn hóa tráng sĩ xưa lên cuộc kháng chiến và người chiến sĩ vệ quốc. Bài Khuya 1 cũng chưa theo kịp hiện thực sôi động quyết liệt của năm 1965. Những bài hướng về kháng chiến, Ngân Giang viết trong thành, lại hay hơn, thực hơn, có dư ba hơn: “Gác hẹp mơ màng tin quốc sự/ Ngày về mãi mãi nhớ lời nhau/... Ai lên xứ Bắc cho ta nhắc/ Những mảnh trăng vàng theo vó câu” (Gác hẹp). Đặc biệt bài An phận bộc lộ nỗi lòng của một người bị buộc phải tạm thu mình lại đợi thời. Ta hiểu vì sao tác giả lại phải dùng ẩn dụ: “Cá xám thu vây chờ vượt sóng/ Rồng vàng uốn khúc đợi tung mây/ Sống giữa lòng đêm tìm khối sáng/ Tim sầu nào biết gửi ai đây”... Tâm trạng chủ thể trữ tình được cá thể hóa đến cao độ: “Một vùng đất cũ say mà tỉnh/ Năm ngả thành xưa tỉnh mà say”.

Hình thức, ngôn từ cũ có khi lại trở thành bức màn nghi trang cho những tư tưởng thực của tác giả lúc này đang ở trong lòng địch: “Một lại kinh kỳ vương quốc hận/ Giữa chiều hoang phế nhớ xa xôi/ Xa xôi ai có nhớ ai không? Xứ Bắc chiều nay chắc lạnh lùng?/ Canh vắng thép rung hồn Chiến quốc/ Đường khuya trăng dõi bóng anh hùng” (Mùa thương nhớ).

Những bài thơ đời tư của Ngân Giang nhiều bài rất chân thực, quá thực đến mức tác giả dùng lời nói trần: “Càng thương phận mỏng, thương em dại/ Lại xót con thơ, xót mẹ già” (Tình vạn dặm) hoặc: “Hỡi ơi, sinh kế từ muôn thuở/ Buộc chết nhân tài đến thế ư!” (Thân thế) và khi tác giả nói cụ thể hơn thì ta không thể cầm lòng được: “Mẹ theo chồng mới, cười như mếu/ Con nhớ cha xưa, khóc ngỡ đùa/ Mẹ con ngơ ngác lặng nhìn nhau/ Khung thêu, chỉ hết, tiền không có/ Giường mọt, nan thưa, ruột bỗng rầu” (Cùng đường). Đây là những câu thơ hiện thực nhất, đời nhất, riêng nhất trong thơ Đường luật Ngân Giang. Nó khẳng định tính vạn năng, tính linh hoạt của chính thể thơ quy phạm này trong tay người thơ tài hoa. Tuy nhiên ở một số bài, một số câu, cái thực chưa cất cánh được (Thơ trả nợ, Cùng đường). Ta vẫn thích hơn những câu bóng gió, Đường hơn mà không kém se lòng: “Cơm áo không thương đời bút mực/ Nắng mưa để táp đóa hoa mai/ Niềm tin còn chút duyên văn ấy/ Nghe khói trầm bay ấm dấu hài”.

Thơ Đường luật thất ngôn bát cú là thể thơ khó làm nhất mà vào tay Ngân Giang bỗng trở nên “dễ dàng” như bất cứ thể thơ nào khác, thì tất nhiên càng dễ dàng hơn với Ngân Giang, các bài thơ dài gồm nhiều khổ 4 câu thất ngôn. Điều này ta đã gặp trong Xuân chiến địa (1946) sau lại gặp trong Ướm hỏi: “Lành lạnh bên sông một quán nghèo. Đèn lay dáng trúc gió hiu hiu/ Hướng dương trà vẫn thơm như cũ/ Khóa tỏa tương tư đượm ít nhiều? Nào ai hay biết quên là khó/ Chợt gặp lời thơ lại khó quên.../ Nửa kiếp tìm quê vẫn gió mưa/ Quán chiều, bến trúc hỏi đường xưa”. Đó là tình cảm của Ngân Giang đối với bạn, một chủ đề thấm đượm nhiều vần thơ của Ngân Giang, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất.

Sẽ là thiếu sót nếu không nói tới một tình cảm thiết tha trong thơ Ngân Giang cho đến phút cuối đời, đó là tình cảm đối với quê hương Hướng Dương, Thường Tín, Hà Tây mà hơn một lần bà đã nói đến trong thơ ở đó có cái quán trà nhỏ cũng là nơi tụ họp bạn muôn phương. Trong chùm thơ 10 bài họa thơ của một bạn thơ Việt kiều đã có 3 bài nói về quê hương Hướng Dương của mình: “Tôi ở Hà Tây quê Hướng Dương/ Là nơi dừng bước của muôn phương/ Sánh với thiên nhiên trăm vẻ đẹp/ Góp cùng sông núi vạn mùa hương/ Quanh vùng làng mạc xa thành thị/Ga Vũ Lăng xưa liễu rợp đường”. Tình yêu quê hương đất nước trong sự chia sẻ với người thơ xa xứ càng tràn chảy thành thơ.

Bài viết đã dài mà nguồn văn chưa muốn ngừng bởi con đang day dứt một nỗi tiếc: người nữ sĩ tài hoa ấy có thể lớn hơn nếu có một đời riêng thuận chiều hơn và được sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng - cộng đồng xã hội, cộng đồng thơ . Nhưng tất cả đã qua rồi, chỉ có thơ còn lại và thơ tự nó có một sự sống tự thân, sự sống trường tồn bởi nó chính là tiếng lòng của một con người yêu nước, yêu quê hương, con người ấy đã đi hết bản thân mình và đã gặp đồng loại. Người thơ ấy, tài thơ ấy đã bất chấp tất cả, bất chấp sự éo leo của số phận phức tạp của tình thế, và bất chấp cả sự bó buộc, sự quá thời của phương tiện hình thức để cho ta những bài thơ, những câu thơ tuyệt tác. Nàng thơ khoác tấm áo của quá khứ vẫn đồng hành với hiện tại và tương lai.

9/9/2006

---

[1] Nguyễn Hữu Sơn - vấn đề con người cá nhân trong VH cổ nhìn từ góc độ lý thuyết. Sách: "Về con người cá nhân trong VH cổ Việt Nam: - Nhiều tác giả - NXB Giáo dục 1997.

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z