Phê bình

Thứ năm, 20/07/2006, 10:55
 

'Giữa vòng vây trần gian' dệt bằng biểu tượng và huyền thoại

Hoài Nam

Trang bìa cuốn tiểu thuyết.
Trang bìa cuốn tiểu thuyết.

"Giữa vòng vây trần gian" của Nguyễn Danh Lam không đem lại cho ta sự phản chiếu đời sống, có chăng, đó chỉ là sự phản chiếu cách nghĩ của tác giả về đời sống, nó đan dệt bằng những biểu tượng, những huyền thoại, nhưng cũng chính vì thế mà nó tạo ra sự ám ảnh và buộc ta phải nghĩ về đời sống mà mình đang sống.

Một cuốn tiểu thuyết - đó là một phân mảnh của đời sống thực đã được lọc qua tâm thế, qua cái nhìn và cách cảm của chính người viết ra nó. Tâm thế, cái nhìn, cách cảm ấy có thể bình thường, mà cũng có thể là dị thường. Khi nó bình thường, cuốn tiểu thuyết sẽ là một bản sao của đời sống với những khác biệt không đáng kể, người ta đọc và có thể chia sẻ với cuốn sách bằng chính kinh nghiệm sống được tích luỹ của mình. Nhưng khi nó dị thường, thì cơ sở để đối chiếu đã không còn, người đọc đi vào tác phẩm như đi vào một thế giới vô định, một mê cung, chịu sự va đập của ngôn từ và đôi khi hoang mang vì không tìm thấy lối ra giữa cái trận đồ mông lung ấy. Với tôi, cuốn tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian của Nguyễn Danh Lam thuộc vào loại thứ hai, một cuốn sách không đem lại cho ta sự phản chiếu đời sống, có chăng, đó chỉ là sự phản chiếu cách nghĩ của tác giả về đời sống, nó đan dệt bằng những biểu tượng, những huyền thoại, nhưng cũng chính vì thế mà nó tạo ra sự ám ảnh và buộc ta phải nghĩ về đời sống mà mình đang sống.

1. Biểu tượng dòng sông

Có hai con sông được nói đến trong tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian. Thoạt tiên là con sông ngay sát cạnh nhà Thức (nhân vật trung tâm của truyện). Đúng hơn thì đây là một dòng kinh. Nhưng thật ra điều quan trọng không phải là ở chỗ nó là sông hay kinh, mà cái quyết định là ý nghĩa phân cách bờ bên này và bờ bên kia của nó. Ở bờ bên này là cuộc sống thực tại mà chúng ta đang sống từng phút, từng giây, là cuộc sống có những bữa nhậu đêm "tới bến" mà chính nhân vật Thức vừa trải qua. Khi băng qua điểm phân cách ấy với sự hoảng loạn của một kẻ chạy trốn - mà không hiểu vì sao mình lại chạy trốn, ai đuổi và vì lý do gì? Thức đã tới bờ bên kia. Nếu trong triết học Phật giáo, "đáo bỉ ngạn" (sang đến bờ bên kia) tức là giác ngộ, thì với nhân vật Thức, hành vi "đáo bỉ ngạn" sẽ đưa anh đến bến Lú, là khởi đầu cho một hành trình luẩn quẩn loanh quanh kéo dài cho tới hết cuốn sách: hành trình trên cõi Mê!

Con sông thứ hai xuất hiện sau con sông thứ nhất khoảng 6,7 trang sách, khi Thức đi lấy nước theo lệnh của gã lái xe đã cho anh quá giang trong lúc trốn chạy. Ngay từ đầu thì con sông đã có cái vẻ quái lạ: "Mặt sông không rộng, nước chảy cũng không xiết. Thức chẳng hiểu vì sao tiếng óc ách của nó có thể vang xa đến thế". Ấy vậy mà nó có sức hút ghê gớm với Thức, anh đã từng giao hoan cùng nước của nó: "Thức nằm úp trên lớp cát ven bờ. Cảm thấy mình như cục đất khô cong, đang từ từ rã ra khi từng hạt đã ngậm đầy nước. Nước liếm vành tai Thức. Miên man, Những vết thương thoáng dựng lên. Bỏng rát. Rồi mau chóng mềm ra. Đê mê. Rười rượi"... Con sông này sẽ chảy suốt cuộc hành trình của Thức, anh xuôi dòng sông cùng hai lão già một đen, một trắng trong cuộc tìm kiếm "một cái gì đó" mà Thức không rõ, cả hai lão cũng không rõ. Từ dòng sông, anh rẽ vào ngôi làng vắng lặng, rồi lại trở lại dòng sông trước khi đi lên tháp cổ, trước khi vào hẻm núi để đón nhận giờ khắc cuối cùng của đời mình. Trên dòng sông ấy, thi thoảng anh vẫn loé lên sự khát khao được sang bờ bên kia, nhưng rút cuộc thì anh không sang, không ai sang, và bờ bên kia vẫn hoàn toàn là một thế giới mù mịt không nằm trong sự tri giác của con người! Người ta có thể tự hỏi, con sông biểu tượng cho điều gì? Không dễ đưa ra một câu trả lời xác quyết cho câu hỏi này. Nói đúng hơn, có khá nhiều đáp án khi người đọc đối chiếu nó - dòng sông của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam - vào cái kho tri thức văn hoá mà nhân loại đã tạo dựng trong lịch sử. Nó là con sông âm phủ như trong thần thoại Hy Lạp, con sông đưa linh hồn người chết tới vương quốc của thần Hadex? Nó là con sông trong nhận thức của Thiền giả, con sông phân tách giữa u mê và bừng ngộ? Tôi thích giả thiết thứ hai hơn, và nó thuyết phục tôi bởi một chi tiết: con thuyền. Theo quan điểm Thiền học, để vượt sông Mê tới bờ giác ngộ phải có thuyền - tức là phải có công cụ cần thiết để người hành Thiền đạt đạo. Khi đã giác ngộ rồi, công cụ ấy trở nên vô dụng, níu kéo nó thậm chí có hại. Bởi thế mà khi cơn lũ kéo đến trên sông, lão già đen vì không chịu rời con thuyền nên đã phải mất mạng. Nhưng, giả thiết thứ nhất cũng không phải không có lý. Xuôi theo dòng sông âm phủ ấy, Thức đã đạt vào thế giới của những âm hồn, nơi ngự trị của cái chết. Và đến đây thì chúng ta có biểu tượng ngôi làng.

2. Biểu tượng ngôi làng

Sau cơn lũ kinh hoàng, Thức kiên quyết rời bỏ dòng sông và bạn đồng hành là lão già trắng để vào làng, với mong muốn được gặp Người. Một không gian khác mở ra, trước hết là cái làng, rồi sau đó là những biến thể của nó: cái rẫy vắng, ngôi tháp cổ và hẻm núi. Tất cả đều quái lạ. Trong làng, trừ cô gái và bà mẹ mà Thức gặp, tịnh không có người. Nhưng bất cứ lúc nào người cũng tồn tại trong sự lo sợ, phấp phỏng của cô gái và Thức. Nỗi lo sợ phấp phỏng về "họ" - những người dân làng. "Họ" không ở đâu cả nhưng dường như lại có mặt ở khắp nơi. "Họ" không lộ diện, không hình tích nhưng lại đầy sự đe dọa công khai. "Họ" sẽ làm gì Thức và cô gái nếu phát hiện cô che giấu Thức trong nhà, và phải chăng đó là một điều cấm kị? Không có câu trả lời rõ ràng nào cho những chuyện này, chỉ biết rằng "họ" đang rập rình bủa vây hai người từng giờ từng phút. Bí ẩn. Bí ẩn như ngài Klamm và cái lâu đài trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Frank Kafka: tất cả đều nói về và đều sợ hãi trước quyền lực của ngài Klamm và toà lâu đài của ông ta, cho dẫu chẳng ai biết mặt ngài Klamm, chẳng ai từng đặt chân đến toà lâu dài nọ. Phải chăng, ở đây có một sức hấp dẫn nào đó từ phía văn hào người Czech tới tác giả trẻ Việt Nam, sức hấp dẫn bởi tư tưởng về con người như một tồn tại thật mỏng manh giữa những thiết chế quyền lực không ai chỉ mặt đặt tên nhưng lại đầy sức mạnh? Có thể nói. Nhưng tôi nghĩ, nếu ở Kafka tư tưởng được đặt trên nền đời sống, thì ở Giữa vòng vây trần gian của Nguyễn Danh Lam, nó hiện ra trên nền cái chết. Người ta có thể hình dung cái làng mà Thức đặt chân vào là một bãi tha ma, "họ" - những người dân làng - là những người đã chết. Khi Thức lánh vào cái rẫy vắng - một biến thể của làng - thì bối cảnh ở đây cho phép người đọc có thể hình dung cái rẫy vắng ấy như là một vùng cấm của các dân tộc người ở Tây Bắc, Tây Nguyên, nơi trú ngụ của những người chết, và người sống không được phép đặt chân vào. Đến ngôi tháp cổ thì mọi thứ đều rõ ràng: đây chính là thế giới của các âm hồn chưa siêu thoát, hằng đêm họ vẫn hiện về từng đàn, từng lũ như cố níu kéo, chút nào sự tồn tại đau khổ của kiếp người. Những bạn đồng hành với Thức trong không gian làng - bà mẹ già, cô gái, lão già trắng và ngay cả bản thân Thức là người hay ma? Ta đọc lại sự tự vấn của Thức đêm trước khi vào làng: "Anh thấy mình còn đây, nhưng biết đâu qua sự chứng kiến của rất nhiều kẻ khác, anh đã chết? ". Rồi giấc mơ đêm trước khi Thức lên tháp cổ - giấc mơ về một đám ma - lại là sự thực qua lời kể của cô gái, ở cuối truyện, bản thân cô gái tiết lộ với Thức: cô chính là người đàn bà trong hang đá vẫn nói chuyện với anh, tức cô là một người chết! Tất cả đều mờ mịt, hỗn loạn. Âm dương nhập nhoạng, xâm thực lẫn nhau trong một toạ độ không - thời gian không xác định! Một truyện hoang tưởng với mục đích mang lại cảm giác rùng rợn khác lạ chăng? Theo tôi thì không phải. Những chuyện chí nhân chí quái ở Trung Quốc thời cổ hay truyện huyễn tưởng của văn học Châu Âu thời hiện đại đều có cái rõ ràng sáng sủa của nó, cho phép người đọc phân biệt ranh giới giữa thế giới thực và hư. Người ta có thể thích với cái hoang đường khác lạ nhưng không phải tin vào tính hiện thực của nó. Còn ở đây, vấn đề không phải là thực hay hư, nên tin hay không nên tin, mà người ta ngập vào nó, sống với nó, suy nghĩ về nó và suy nghĩ về cuộc sống mình đang sống: sự giải tạm đến hư vô của mọi tồn tại trong cái vô thuỷ vô chung của thời gian vũ trụ, sự lệ thuộc không thể cưỡng lại được của con người vào những thiết chế xã hội và vào chính những định kiến của mình, do mình tạo ra. "Sự bừng ngộ đi đến tận cùng của nó cũng là một cõi mê"!

3. Huyền thoại sáng thế

Sau một loạt những sự kiện được kể lại từ chương 1 đến chương 11, từ chương 12 đến hết cuốn sách tác giả Nguyễn Danh Lam đã rút số lượng nhân vật xuống chỉ còn hai: Thức và cô gái (không kể con chó mà Thức cưu mang). Trong bối cảnh vắng lặng đến rợn người mà cuốn tiểu thuyết đã vẽ ra, sự tồn tại trơ trọi hai con người đại diện cho hai giới của loài người khiến người ta phải nghĩ đến huyền thoại sáng thế của hầu khắp các tộc người trên thế giới: một biến cố lớn đã xảy ra (trận hồng thuỷ chẳng hạn), thế giới hoang tàn, chỉ còn một đôi trai gái sống sót (có thể họ là anh chị em ruột), họ lấy nhau, sinh con đẻ cái và tái sinh thế giới từ đó. Môtip này được sử dụng với một sự điều chỉnh có chủ ý trong Giữa vòng vây trần gian: Thức và cô gái không thể trở thành vợ chồng của nhau. "Họ như hai mẩu gỗ dạt vào nhau trên một dòng sông ngầu bọt. Bị va đập, bị cuốn trôi. Vô tình, trong cùng một quỹ đạo như nhau. Nhưng hai mẩu gỗ vẫn hoàn toàn là hai mẩu gỗ. Không mảy may có cơ duyên nhập lại làm một". Tại sao? Cô gái giải thích: "Nếu muốn được hợp thức hoá, anh phải làm chồng tôi. Nhưng nếu muốn được cùng anh, tôi lại không được phép làm vợ anh". Trở ngại không phải từ phía Thức, cũng chẳng từ phía cô gái, mà nó đến từ phía "họ" - những người chưa bao giờ xuất hiện, nhưng luôn tồn tại qua việc áp đặt lên số phận của cô gái và Thức những luật lệ, những định kiến mơ hồ, khó hiểu và đáng sợ. Đáng sợ vì nó mơ hồ và khó hiểu! Tóm lại huyền thoại sáng thế khi được tái sử dụng ở đây đã bị cắt xén vào đúng phần quan trọng nhất: vào đúng cái điểm lý giải sự tái sinh thế giới. Hơn nữa, còn có thể nói tới một sự đảo ngược trình tự của huyền thoại sáng thế ở Giữa vòng vây trần gian: Biến cố (cơn hồng thuỷ), thay vì ở điểm khởi đầu, đã lại được đặt ở điểm chung cục. Nó diễn ra sau khi cả Thức và cô gái đều hiểu rằng họ không thể kết hợp thành một gia đình hạt nhân. Có thể nói rằng từ cái "phản huyền thoại" này mà ý đồ tư tưởng của tác phẩm đã được phơi lộ: khi nào mà con người còn ngụp lặn trong vực thẳm của nghi kị và sợ hãi, khi nào mà con người không thể nối kết với con người bằng sự thông hiểu và tình yêu thương, thì khi đó cõi trần gian này còn là một vòng vây đầy khổ ải đối với mọi phận người!

Giữa vòng vây trần gian của Nguyễn Danh Lam đúng là một cuốn sách không dễ đọc. Độc giả cả tin sẽ chẳng hề tìm thấy chất "chuyện" ở đây, cho dẫu rằng những yếu tố cần cho một tác phẩm "truyện" đều có nhân vật, sự kiện, những biến cố. Cái nó thiếu - nếu có thể nói như vậy - là thiếu tính hợp lý, tính có thể tin được ở tất cả những gì mà tác giả kể lại (nếu đem soi chiếu vào logic của đời sống bình thường). Hơn nữa, cuốn sách này còn là sự đan cài, chồng chéo, rậm rịt của nhiều chi tiết biểu tượng, nhiều mẩu mảnh huyền thoại và vì thế mà nó mất đi tính sáng rõ cần thiết của những tác phẩm tiểu thuyết "phản ánh đời sống một cách trung thực, như nó vốn có". Nhưng, tôi chia sẻ với nhà văn Ngô Tự Lập ở quan niệm "Văn học như là quá trình dụng điển". Biểu tượng và huyền thoại là một kiểu điển tích. Nó tạo ra độ mờ và sự đa nghĩa cho văn bản, nó bắt người dọc phải mở rộng không gian ra ngoài văn bản mà mình đang cầm trên tay để có thể thâm nhập trở lại tích cực hơn. Ít nhiều thì Nguyễn Danh Lam đã làm được điều đó với tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian. Do vậy, theo tôi nghĩ, đây là một cuốn sách đáng đọc.

(Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội)

 

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z