|
Đọc 'Sống với núi lửa' của Trần Nguyễn Anh
(Tập ký do NXB Văn học ấn hành, 2005)
Tác giả của tập ký này là một nhà báo trẻ. Chịu khó đi. Và được đi. Có người mang danh nghề báo lại lười đi. Có người muốn đi lắm nhưng vì lý do này khác lại không được đi. Trần Nguyễn Anh có cái sướng là rộng chân rộng cẳng. Muốn đi đâu là được. Mà về cơ sở có khi lại còn “cơm bưng nước rót” nữa kia…
Nhưng tất cả những chuyến đi ấy sẽ chả là gì nếu như anh không biết biến chúng thành con chữ, thành tác phẩm. Sau mỗi chuyến đi, những cái anh thấy, anh cảm, anh ấn tượng có hóa thân thành chữ nghĩa hay không mới là điều đáng nói. Dĩ nhiên, ở đây có hai chuyện. Thứ nhất, sau mỗi chuyến đi, bắt buộc anh phải có bài “ăn liền” nuôi báo. Thứ hai, cũng chẳng nhất thiết anh phải viết ngay. Những gì có được từ chuyến đi sẽ nằm lại trong ký ức anh, cứ ủ đó, để chờ vào lúc bất kỳ sinh nở. Cả hai trường hợp đó thế nào cũng còn tùy vào mỗi người cầm bút.
Tôi nhận ra rằng, tất cả 35 đoạn được đánh số trong tập ký này vốn là 35 phần trong 35 bài ký hoàn chỉnh đã được đăng rải rác trên báo. Là chỉnh thể từng bài, dung lượng sẽ lớn hơn, mạch văn sẽ tãi hơn, chi tiết sẽ rậm rịt hơn, tính xác định của nhân vật, sự kiện, địa danh (theo tinh thần thông tấn) sẽ cụ thể hơn... Giờ đây, trước từng bài, Trần Nguyễn Anh đã tiến hành lược bỏ rất bạo tay từng mảng, từng phần; rồi lại làm nhòe mờ trần thuật, chỉnh sửa đôi chút. Sau cùng, anh ghép từng đoạn còn lại đó bên cạnh nhau, tiếp nối nhau, lược bỏ nhan đề, đánh số theo một trật tự nào đó, thế là thành tập ký. Từ những gì đã có, anh đã tái tạo ngôn từ, làm nên một chỉnh thể mới.
Đây là một sáng tạo. Sự lược bỏ và lắp ghép như vậy có thể gọi đó là trò chơi chữ nghĩa. Trước hết là trò chơi cấu trúc. Các mảnh đoạn của ký không theo một trật tự thời gian hay nhân quả nào. Người đọc như được lang thang theo ngòi bút anh đi khắp mọi miền đất nước, gặp bao nhiêu phong cảnh, chạm vào bao nhiêu số phận, gợi nghĩ bao nhiêu vấn đề cuộc sống. Trần Nguyễn Anh không chủ trương cung cấp những bức tranh hoàn chỉnh. Mỗi tiết đoạn đó là những nét phác thảo, những đường viền về một nơi chốn, một con người, một trạng thái nhân thế. Nhờ vậy, nó cũng không nhằm đề xuất, điều trần một điều gì thật rõ ràng. Nó chủ trương gợi, chứ không hướng tới cái đủ đầy. Hành động đọc ở nơi người đọc như là một sự “nhảy cóc”, vừa mới qua tiết đoạn này, đang còn thèm thuồng, đã lại kết thúc để ngoặt sang tiết đoạn khác. Cũng có cái thú vị riêng của nó. Nó không bắt người đọc dừng lại quá lâu ở một “cảnh” nào. Nó chuyển cảnh. Nó sử dụng thuật của điện ảnh: lắp ghép (montage). Cũng nên xem đây như một thí nghiệm. Ở truyện ngắn, tiểu thuyết, kỹ thuật này đã được sử dụng từ lâu, và cho đến hôm nay nó còn cực đoan hơn: phân mảnh (fragment). Ở ký, Trần Nguyễn Anh đã làm một thử nghiệm đầu tiên, độc đáo. Nhờ độc đáo nên thú vị.
Một điều đáng chú ý nữa, tác giả với tư cách là một người viết không thấy khi nào trực tiếp đứng ra phán xét, dạy bảo độc giả, khuyên can độc giả. Người trần thuật lui về phía sau, đẩy hiện thực miêu tả lên mặt tiền của văn bản. Nhờ vậy, thực tại được miêu tả và lượng thông tin tự nó sẽ thuyết phục người đọc. Đây là một thái độ mang vẻ đẹp văn hóa, nghĩa là tác giả rất biết tôn trọng người đọc, coi mình là một ví trí bình đẳng với người đọc.
Trong cái sự đi và viết của Trần Nguyễn Anh, thấy có điều thật quý giá: Cảm quan ngòi bút ký của anh chuyên tâm hướng về cuộc sống trong cái vẻ hàng ngày của nó. Anh không săn tìm những cái phi thường, không hướng thượng (về các nhân vật quan chức, các đại hội, hội nghị, hội thảo…). Ngòi bút anh chỉ biết khoáng hoạt, cặn kẽ, ân cần với những cái bé mọn, tấm mẳn hàng ngày. Vì thế, những điều anh viết ra, thật gần gũi, lắm khi cảm động. Đây là một cây bút biết sống kỹ với những gì nhỏ nhặt nhất của cuộc đời. Chẳng phải đó là phẩm chất số một của nghề cầm bút sao!
Nói “sống kỹ” đối với một cây bút viết ký cũng cần hiểu không chỉ là sự rung cảm, mà còn cả cái phẩm chất nghiên cứu kỹ lưỡng những cảnh sống, những nghề sống, những lịch sử sống trên khắp vùng miền đất nước. Trần Nguyễn Anh rất tỉ mỉ tìm hiểu, nắm bắt các chất liệu thông tin từ quan sát trực tiếp, từ những cuộc trò chuyện, từ nguồn sách vở… Không có cái kỹ lưỡng chi li, trang viết dễ rơi vào chung chung đại ngôn, và đương nhiên không thể có những chi tiết độc sáng - điều mà mỗi tác phẩm ký đều cần. Đọc những đoạn nói về hòn đảo Hoàng Sa mả gió (18), về làng Kiêu Kỵ có nghề dát vàng (30)…không thể không thấy cái công phu điền dã, công phu tra cứu, kiến văn rộng rãi của người cầm bút. Đọc cả tập ký, thấy biết bao nhiêu cảnh sắc, giọng nói, cả cái lấm láp, mùi vị của những mảng sống trăm miền.
Trần Nguyễn Anh là người chịu thể nghiệm. Trước đã có tập ký Mùa xuân nghiêng. Giữa cho đăng một loạt bài thơ “thị giác” trên mạng có cái tên là lạ: Mặc xanh áo em. Nay lại Sống với núi lửa. Đọc những danh tính con dạ con so đó đã thấy ra cái người phá cách rồi. Chỉ có người đắm đuối, nặng nợ với nghiệp chữ mới không ngại khó ngại khổ mà độc hành chữ nghĩa như thế.
Tháng Giêng Bính Tuất
|