|
Nguyễn Văn Thọ - người thức và viết
Khép lại trên tay tập tuỳ ký “Đào ở xứ người” của Nguyễn Văn Thọ dày gần 300 trang, do NXB Thanh Niên phát hành tháng 5/2005, tôi không khỏi suy ngẫm. Người cha đã dạy con “đừng thức mà không làm gì”.
Phải rồi, thế hệ chúng tôi, những người sinh ra sau khi đất nước thống nhất, trưởng thành trong thời kỳ hiện đại hóa, không ít người đã từng có những đêm trắng vô ích. “Cuộc đời âu chỉ như nửa tiếng vỗ tay”. Nửa tiếng vỗ tay, hình tượng ẩn dụ mang tính triết học khái quát được sự thôi thúc con người phải sống. Nhìn nhận lại, mình đã làm gì được trong cuộc đời này?
Tập hợp lại 17 bài viết in rải rác trên báo, tập tuỳ ký là những gì chân thực và sinh động, quyết liệt nhưng tình cảm nhất của nhà văn Nguyễn Văn Thọ trong suốt bao năm cùng những lao động VN - những "thợ khách" trên nước Đức. Không biết có phải cơ duyên hay không, tình cờ tôi chọn được cuốn Đào ở xứ người nằm giữa những cuốn sách mới xuất bản bên quầy sách phố Nguyễn Xí. Như ngày nào, tôi tình cờ đọc được truyện Hậu thiên đường trên một nửa tờ báo Tiền Phong gói hàng. Số phận những người lao động nước ngoài trước biến động khi bức tường Berlin sụp đổ tái hiện được sự lạnh lùng của thể chế chính trị, nhưng cũng thực đau đớn với số phận người dân khi đối mặt với nạn thất nghiệp và tiền thuê nhà. Khỏi phải nói, hồi đó, tôi đã rất tiếc khi không đọc được trọn vẹn những kỳ báo trước và tiếp sau. Một thời gian, tôi được đọc trên Tiền Phong, series bài: Mười lăm năm, người Việt ở Đức. Một xã hội người Việt thu nhỏ bên đó, lương thiện có, buôn thuốc lá lậu, cướp bóc có, làm ăn giỏi có…
Tất cả, qua cách viết thẳng thắn nhưng đầy nghệ thuật của cảm xúc hiện lên hình ảnh một tiếng rao đêm trên sân ga nước người mơ hồ vang lên trong tiềm thức, ám ảnh bước chân người tha hương. Người bên đó “cần mẫn, thu vén từng pfennig, nhưng cũng hay sĩ diện tự ái vu vơ, sẵn sàng bất cần tất cả”. Người bên đó, giỏi giang như bốn đại gia nữ với số vốn hàng triệu đôla, nhưng cũng có người quần quật mười tiếng một ngày trong nhà lạnh âm 40 độ xẻ thịt những chú gà tây khổng lồ… Mười lăm năm, đoạn trường của Thuý Kiều, cũng là biết bao đoạn trường của những người đàn bà. Tôi cảm nhận được sự thương yêu, mến trọng thân phận người đàn bà trong ngòi bút Nguyễn Văn Thọ. Thiết nghĩ, chẳng phải ngẫu nhiên anh viết lời đề tựa: “Càng đi càng nhớ và càng thấy… với tôi chỉ Mai và Đào là đáng trọng và yêu thương nhất”. Phải chăng, Đào ở cuốn tuỳ ký này, không chỉ là những bông hoa đào trong ngày Tết xa xứ? Những bông hoa được chăm bón, mong ngóng hé nở đúng giao thừa, hằng mong chút hương vị mùa xuân trong xứ tuyết thê lương? Phải chăng Đào, là tên gọi những người con gái nơi đất khách? “Ở trần gian người đàn bà bao giờ cũng là người nhẫn nhục cắn răng mà nín nhịn. Những cô gái đáng yêu Việt Nam vốn dĩ mềm yếu… trong cuộc tha phương cầu thực lắm nỗi truân chuyên này, có bao nhiêu em tên Đào?”
Không chỉ dừng lại ở số phận người lao động trên đất khách. Nguyễn Văn Thọ còn tỏ ra là một cây bút rất sung sức trong khi đề cập những vấn đề xã hội. Giáo dục, môi trường, đạo đức, nhân cách, được gửi gắm khéo léo qua loạt bài: Con tôi đi học ở Đức; Rừng thành phố; Vết sẹo… Nền giáo dục ở Đức được chú trọng từ khi trẻ bắt đầu đi nhà trẻ, mẫu giáo. Người ta không chỉ chăm lo cho trẻ về thể và chất mà còn bồi dưỡng cho tư duy luôn tự tin. Đúng vậy, hoà nhập và sự tự tin luôn là điều cần có trong mỗi con người, nếu ta cũng chú trọng giáo dục trẻ có sự tự tin như vậy, tôi nghĩ, sự phát triển nhân cách của trẻ Việt Nam sẽ tốt vô cùng. Trong bài ký Rừng thành phố, tác giả muốn đề cập sự nâng niu, phát triển có kế hoạch từng gốc cây ngọn cỏ ở nước ngoài. Muốn chặt một cây có đường kính quá 50 cm, phải được phép. Không như Việt Nam ta, chỉ trong vòng một đêm, mà loạt cây cổ thụ bị dẹp đi thay thế vào đó là những cây dừa lạ hơ lạ hoắc làm trống vắng một góc phố thân thuộc. Trông người mà ngẫm đến ta. Tác giả muốn nhấn mạnh đến sự thờ ơ - một thái độ đáng ngại của thời hiện tại- chính sự thờ ơ ấy tạo nên chúng ta, những kẻ “ở thì ăn đong, ăn xổi, ăn tới kiệt cùng cả thế hệ mai sau” nếu như còn hờ hững với vấn đề môi sinh.
Thật là thiếu sót, nếu không nhắc đến chi tiết Nguyễn Văn Thọ với tư cách người lính chiến đấu trên những chiến trường khốc liệt. Văn thơ của người lính ấy, không hề khô khan buồn chán. Ngược lại. Lúc nào ta cũng cảm thấy thẫm đẫm tình người, cảm xúc dâng tràn ngay trong những trang viết liên quan đến chiến tranh, hoặc hồi ức về những giờ phút khói lửa. Đọc Phát đạn cuối cùng, một kỷ niệm về ngày 30/4/75 tại Sài Gòn, nơi anh với tư cách người lính quyết chiến đấu vì Độc lập, Tự do. “Không ai là người muốn chết trận cuối cùng cả”. Người chiến thắng trong khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh, nhìn đôi mắt van xin tuyệt vọng của người bại trận. Lo sợ, sự sống, sự chết. Trong chớp nhoáng, anh đã hạ súng, tha cho đối phương. Phát đạn cuối cùng, suýt bắn một người, giờ bắn lên trời cao đón mừng đất nước đã hoà bình. Trong Vết sẹo - không biết kịch tính này, có thể được gọi là gặp lại “địch thủ” rồi cuối cùng chuyển hoá thành “cố tri” hay không. Hai người lính, Mỹ và Việt Nam cùng gặp nhau trong buổi chợ trên nước Đức. Họ đều có những vết sẹo, đều chung chiến trường đã chiến đấu. Họ từng là đối phương, kẻ thù, một sống một còn. Họ từng bắn vào nhau, gây lên những vết thương còn nhức buốt đến tận giờ. Nhưng, đó là chiến tranh, là quá khứ. Ngòi bút Nguyễn Văn Thọ khe khẽ nhưng sâu sắc đi qua nỗi đau chiến tranh. Đã qua rồi, hai người lính ôm nhau, trầm ngâm khi nhắc tới những địa danh: Huế, Đà Nẵng, Tây Nguyên, để rồi “tôi khóc… hình dung khuôn mặt sàm sạm nắng gió của anh, nụ cười chua chát của anh mỗi khi anh nhắc đến những cánh rừng nhiệt đới, những buổi hành quân, bom đạn, chết chóc".
Đào ở xứ người, riêng tên tập tuỳ ký đã nghe đầy thân phận. Tác giả có một vốn sống dạn dày, sương gió, và phong phú. Chúng là một bức tranh giàu hình tượng và màu sắc của loại thể ký; cũng là một phần của sự thật, bức tranh gần như toàn cảnh của những người thợ khách trên nước người, thông qua con mắt tinh tế của một nhà văn, những gì anh đã đồng trải qua, cảm nhận, và chiêm nghiệm.
Điều quan trọng hơn, tôi có thể hiểu, đó là sự chân thực trong từng chi tiết, từng ngôn ngữ. Đào ở xứ người chứng tỏ một Nguyễn Văn Thọ không chỉ biết làm chủ vững vàng trong cấu trúc ở thể loại truyện ngắn. Trong tập sách này, anh viết dung dị, thản nhiên, người đọc tinh tế vẫn nhận thấy tác giả biết sử dụng những từ ngữ thực tinh tế, giàu hình ảnh, và sinh động, cập nhật mà không phải người ở lâu bên nước ngoài còn nhớ. Như “véo xôi”, “mặt đất có thứ hồ sột sệt trơn nguội”,“thợ khách”, “chân chỉ hạt bột”… Giọng điệu đôi lúc tung tẩy, hài hước và như một xoáy nước, hút sâu ý tưởng cuốn hút đượcc người đọc. Lối viết chân dung của anh cũng mang đầy tính trân trọng nhân vật như Dấu chân Khoa ở Đức, Triệu phú Euro, Câu chuyện Mai Linh…
Một tập ký gần 300 trang, có một sức cuốn hút người đọc, buộc người đọc không chỉ biết thêm được nhiều thông tin quan trọng về người lao động Việt Nam ở xứ người, mà khi gập sách lại chắc chắn người ta phải suy nghĩ, gợi mở nhiều điều tưởng không là vô ích. Hy vọng, Nguyễn Văn Thọ - người “ngỗ ngược, bươn trải tới cứng cỏi phong trần nhưng vốn mong manh dễ vỡ” ấy, sẽ làm được nhiều điều bất ngờ hơn nữa đóng góp cho văn đàn Việt Nam một tiếng nói cảm thực.
(Nguồn: Văn nghệ Quân đội)
|