Phê bình

Thứ tư, 13/07/2005, 08:34
 

'Mạc Khải' - niềm vui thầm lặng của Lê Quốc Hán

Hà Quảng

Đọc "Mạc Khải", thơ Lê Quốc Hán, NXB Hội nhà văn 2004

Tôi biết Lê Quốc Hán từ ngày anh còn là một cậu học sinh trung học. Cậu học sinh có dáng người nhỏ nhắn và ánh mắt nhìn hơi xa ngái, hơi rụt rè nhưng không giấu được vẻ thông minh, bặt thiệp.

Ngay từ những năm học cuối cấp phổ thông anh đã có những bài giải toán đăng trên tạp chí Toán học và Tuổi trẻ và cũng đáng ngạc nhiên hơn khi cậu học sinh ở một làng quê heo hút này đồng thời cũng mang về cho Trường THPT Kỳ Anh những giải thưởng Học sinh giỏi văn của tỉnh.

Con đường từ nhà đến trường gần hai mươi cây số, chủ nhật nào cậu cũng tìm về để học thêm Pháp văn với người cha già vốn là một công chức lưu dung cũ. Dưới sự hướng dẫn của cụ, cậu đã mò mẫm làm quen với các nhà thơ lãng mạn Pháp Muyxê, Vinhi, Lamáctin [1] từ rất sớm. Cái máu văn chương có lẽ đựợc nhen nhóm từ đấy. Tôi còn nhớ lần ấy khi tiễn chân chúng tôi ra về, ông cụ còn đọc và dịch cho nghe một câu nói của nhà toán học Pascal: "Trong vũ trụ, con người cũng chỉ là một cây sậy nhỏ nhoi, nhưng đấy là một cây sậy biết suy nghĩ…". Đó là những năm chiến tranh ác liệt, nhất là vùng chân Đèo Ngang, không ngày nào không có tiếng bom rơi, đạn rú, pháo biển pháo bầy cấp tập. Ấy thế mà lứa thanh niên vẫn miệt mài học tập say mê văn chương để mấy mươi năm sau đóng góp cho Hội Nhà văn VN hai cây bút một thơ, một văn. Đó là Lê Quốc Hán và Dương Kỳ Anh.

Cái sự học của Lê Quốc Hán đầy cam go, trước khi về Đại học Vinh làm trợ giảng rồi bảo vệ thành công học vị PTS và chẳng bao lâu nhận học hàm PGS, anh từng cày ruộng, đi làm gia sư, từng theo học ngành sư pham, về dạy cấp hai một trường làng nhiều năm. Lên thác xuống ghềnh nhưng lòng say mê thơ ca theo tháng ngày không giảm, chỉ tăng lên mà thôi. Tập thơ đầu tay Lời khấn nguyên xuất bản 1996, tiếp theo là Bến vô cùng 1999. Hai tập thơ được bạn đọc yêu mến vì mang đến cho người đọc một phong cách mới mà như lời giới thiệu trên Văn Nghệ Trẻ: “Có cái gì hư ảo cổ kính như Đường Thi nhưng cũng chân quê như ca dao”.

"Mạc Khải" là tập thơ thứ ba của anh. Sắc thái “tâm linh”, “mùi Đạo” đã toát lên từ cái tên tập thơ. "Mạc Khải" là lời tỏ bày, là niềm vui thầm lặng của một con người, của nhà thơ trước cõi đời và trước Đấng Tối Cao! Hơn nửa thế kỷ có mặt trong cõi đời nhà thơ như thấy mình luôn mang nợ. Tâm tư này không mới nhưng thật cảm động khi được tác giả gửi gắm, hình tượng hoá trong hình ảnh “con trâu”:

"Trâu ơi!Trâu ơi! Trâu ơi!
Có phải cầm tinh mày
nên tao cũng suốt đời kéo cày trả nợ
Nợ cuộc sống, nợ văn chương, nợ quê hương xứ sở
dám đâu mong trả hết ở kiếp này!" (Ký ức)

Chính bởi ba mối nợ này nên anh không cầm lòng đặng trước nỗi đau của người dân quê:

"…Tháng mười dai dẳng
Trong nước lũ máu người đục trắng
…Tháng mười dai dẳng
Lá rụng đỏ tóc học trò thi hỏng
đang nguyện cầu trước gió heo may…" (Tháng mười)

Và cũng không thể kìm nổi tiếng reo khi cuộc đời mới đang đâm chồi nảy nụ, dẫu chỉ một màu nắng thu, một đoá phù dung hay một chiếc cầu mới bắc qua sông quê sau ngày hoạn nạn.

Cũng như hai tập trước, thơ Lê Quốc Hán nghiêng về phía tâm linh hơn ngoại cảnh. Hình tượng thơ thực ảo lẫn lộn. Ta hay gặp những hình ảnh thiên thần, quỷ sứ, những ngôn từ linh hồn, vĩnh hằng, phù du, sáng thế, kiếp người, chúng sinh, phép lạ… Không phải không có lý khi có nhà phê bình cho rằng: "…Thấm nhuần các giáo lý tôn giáo, Lê Quốc Hán nhìn nhận con người và thế giói trong mối tổng hoà chằng chịt của nó để vươn lên cuộc sống đẹp Đời, tốt Đạo…Thơ anh lý giải cuộc đời khá biện chứng nhưng lại đẫm màu sắc tôn giáo về kiếp người, về hạnh phúc, nỗi khổ đau…[2].

Tuy nhiên, “cõi tâm linh” trong thơ anh lại phản quang hình bóng cuộc đời, thế thái nhân tình; thấp thoáng đằng sau niết bàn, thiên đàng, xuyên qua những luân hồi, những kiếp sau là nỗi bồi hồi của một trái tim đang mang nợ cuộc đời, nợ quê hương; ngay cả khi nhà thơ muốn ngược hư vô, tìm về bến ảo thì trái tim cũng không thoát khỏi những thổn thức vì tục lụy. "Người đi tích bạc góp vàng. Tôi về chuốc cảnh thế gian khóc cười!".

Toát lên qua tập thơ, bên cạnh “nỗi đau Đời” là “nỗi thương Quê”. Ngay từ Bến vô cùng, hồn quê vẫn luôn day dứt anh, vương vấn anh:

"Nợ từ thuở mới lọt lòng
Sữa thơm của mẹ, máu hồng của cha
Nợ người một điệu dân ca
Nợ quê hạt gạo phù sa lỡ bồi" (Nợ)

Hình ảnh quê hương với con đường, dòng sông, ngôi trường… trở lại nhiều lần trong thơ anh và lúc nào cũng ngập tràn những cảm xúc:

"Anh trở lại dòng sông thơ dại ấy
nước trong veo nước vẫn chảy ơ hờ

Anh trở lại con đường hoang phế ấy
dấu chân xưa mưa dập xoá tơi bời

Anh trở lại góc trường sơ tán ấy
cỏ lên xanh che kín chỗ ta ngồi… (Hoá kiếp)

Tình quê bảng lảng trong thơ anh, hai chữ “cố hương” mới thiêng liêng làm sao. Cố hương ngân nga trong tiếng chuông chiều, trong tiếng chim gù nơi bãi vắng, trong màu hoa hướng dương vào tiết thu… Ngỡ quên nhưng nào có quên, lúc mơ cũng như lúc tỉnh:

"…Bình bong một tiếng chuông chùa
Gõ vào ký ức khi vừa dừng chân…
…Bãi soi vẳng tiếng chim gù
hướng dương thương nhớ mùa thu quay về..." (Cố hương)

Chẳng được như người xưa nhớ quê “đêm đêm hồn mộng ngược xuôi ”, nhưng tác giả cũng luôn trong mơ:

"Ba phần đời trôi dạt
hồn lạc về cố hương" (Lạc)

Và trên con đường phiêu bạt chỉ nghe một tiếng đàn bầu, hay thoảng một giọng hát buồn nhà thơ cũng nao lòng nhớ nhung về cội nguồn...

"Thấy như hồn Trương Chi bay chập choạng trên đầu,
khao khát nhập vào cung đàn tê buốt" (Dâng)

Không thể không nhắc đến mảng thơ tình yêu của tác giả. Cứ ngỡ nhà toán học may mắn trong trường đời chắc thanh thản trong tình yêu, trong đạo nghĩa gia đình. Nhưng đọc những dòng thơ tình của anh vẫn cảm thấy một nỗi trăn trở của sự luyến tiếc, nỗi nhớ nhung của một kẻ “hưởng hạnh phúc như nắm hờ ngọn gió mà thời gian không lặp lại hai lần” (?)

"…Thôi đành lòng tạm xa nhau
hờn ghen kín miệng, lửa đau nguội dần
…Người cầm lòng nhé tôi đi, trái tim gửi lại phòng khi trở trời" (Trở trời)

Nỗi bẽ bàng của tình yêu nhà thơ tìm cách giải thích trong sự vô cùng của cuộc sống và hoá giải nó bằng niềm an ủi của thi ca. Tình yêu là có được, có mất, có lở có bồi, tình yêu là kỷ niệm, tình yêu là hữu hạn so với thời gian vô thuỷ vô chung:

"…Dòng sông khúc lở khúc bồi
Chiều nhau trọn một kiếp người dễ chi

…Đôi bờ cầu mới bắc qua
người tìm mãi bến trời xa của người

...Ngỡ cầm tay hạnh phúc
thời gian đà cuốn trôi ..

Thơ Lê Quốc Hán là dòng thơ tâm linh, thơ hướng nội, anh giãi bày tâm tư của mình một cách trực tiếp ít nhờ vào ngoại cảnh hay sự kiện. Một không khí hư ảo trùm lên tập thơ, thi thoảng chúng ta lại gặp những phút giây nhà thơ nhắm mắt nhìn xuyên bốn cõi, “ngộ” ra chân lý. Vì tính chất trực tiếp, tính chất suy ngẫm đó nên thơ anh đa phần ngắn gọn, cô đọng. Tiêu đề các bài thơ chỉ có vài từ, nhiều bài chỉ một từ (Đá, Nếu, Hỏi, Men, Hồn, Quẻ, Mọc, Vọng, Dâng, Lạc, Tạ , Cha, Gương…).

Hình tượng thơ nhiều khi đến với người đọc nhờ cái tứ tương phản, đột ngột gợi một phán đoán bất ngờ hơn là sự tỏ bày, hay kể lể ta thường gặp. Những cặp từ ngữ đối chọi: nhắm - mở, xưa - nay, người - ta, ngày - đêm…, những vế thơ, những hình ảnh đăng đối:

… Ban ngày xoay xở sống,sấp ngửa một bàn tay
đêm về nhìn lại bóng,giật mình ngỡ bóng ai

…Cuộc đời sớm rủi chiều may
Bây giờ cát sỏi, mai ngày kim cương

…Ngỡ một ngày đầy nắng
bất ngờ chiều mưa rơi
ngỡ đón vầng trăng sáng
đêm mù giăng kín trời

Ngôn ngữ thơ anh chuẩn mực không xô bồ như một số thi phẩm thời nay, thể thơ đa phần tự do có những bài thơ văn xuôi nhưng cũng không quá phóng túng. Có những bài thơ lục bát rất tân kỳ:

Lá vàng rải nắng sau mưa,
nắng vàng dát áo bào xưa.
Ráng trời
Lâu đài đổ bóng.
Sông trôi
Nghìn thu thu lại trong đôi mắt gầy. (Nét thu)

Người đọc cảm thấy thơ Lê Quốc Hán có nét riêng, nét mới biệt lập khó nhầm lẫn với các tác giả khác có lẽ nhờ cái tình cảm chân thực nhiều khi lóe lên thành những suy nghĩ sâu sắc về Cõi Người, Cõi Đời và đặc biệt là dáng vẻ Tâm linh pha mùi Đạo, mùi Thiền - cái nét phương Đông lãng đãng của nó.

Nói về đường Thơ, đường đời của anh, cố nhà thơ Trinh Đường có lời nhận xét sâu sắc ngay ở tập thơ đầu của anh khi ông cho rằng Lê Quốc Hán "biệt lập một cách viết, như núi Hai Vai quê anh, một vai gánh nhẹ nỗi mình và nỗi đời, một vai gánh nặng Vũ trụ và Tâm linh, một con đường vô tận hướng về Lẽ Huyền Vi mà anh mới đi đoạn đầu". (Báo Văn nghệ số 11,14/3/1998).

Lê Quốc Hán tiếp nhận ở toán học sự minh triết của trí tuệ, còn thơ mang lại cho anh sự chân thành của tình yêu. Với hai nguồn mạch lớn lao đó mong anh trả đươc món nợ lòng với cuộc đời và quê hương.

---

[1] A. Muyxê (1810-1857), A. Lamactin (1790-1869), A.Vinhi(1797-1863) ba nhà thơ trữ tình Pháp thế kỷ 19. ,
[2] Thái Doãn Hiểu - Khi nhà toán học bắc chiếc cầu thơ - Tạp chí Sông Hương số 136 - 2000.

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z