Phê bình

Thứ ba, 05/04/2005, 09:32
 

Trực diện với 'Văn học Việt Nam thế kỷ 20' [5/5]

Nguyễn Hòa

(Nhân đọc Văn học Việt Nam thế kỷ 20, Phan Cự Đệ chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004)

(Tiếp theo phần 4)

V. Một thế kỷ thơ và hơn 80 trang giấy 


Về nguyên tắc, xưa nay người ta không quy định một công trình khoa học cần có độ dày bao nhiêu trang giấy, do đó nhan đề “một thế kỷ thơ và hơn 80 trang giấy” của tôi trong phần này chỉ mang một ý nghĩa duy nhất là dành cho phần Thơ Việt Nam thế kỷ 20 của GS Mã Giang Lân - phần mà theo tôi, (không biết có khe khắt quá không?), là sơ sài nhất, là lặp lại một số ý tưởng đã trình bày trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam nhiều nhất và... yếu nhất so với các phần khác của công trình.

Như một kết cấu “phi cổ điển”, kết quả nghiên cứu của Mã giáo sư có hai chương:
 
- Chương I: Những giai đoạn phát triển thơ
 
- Chương II: Sự vận động của thơ Việt Nam thế kỷ 20


1. Hai giai đoạn hoàn chỉnh và hai giai đoạn “băm nhỏ”
 
Ở chương I - Những giai đoạn phát triển thơ, GS Mã Giang Lân chia lịch sử thơ ca Việt Nam trong thế kỷ 20 làm bốn giai đoạn (GĐ):

- GĐ 1: Thơ Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ;

- GĐ 2: Thơ Việt Nam từ những năm 30 đến Cách mạng tháng Tám 1945;

- GĐ 3: Thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975;

- GĐ 4: Thơ Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000.

Trong bốn giai đoạn này, chỉ có giai đoạn 1 và giai đoạn 4 là giữ nguyên vẹn, còn giai đoạn 2 và giai đoạn 3, không nói rõ lý do tại sao, Giáo sư lại “băm” mỗi giai đoạn thành những “thời kỳ” nhỏ hơn. Vì thế, Thơ Việt Nam từ những năm 30 đến Cách mạng tháng Tám 1945 gồm: những năm 30 và những năm đầu thập niên 40; còn Thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 gồm: thời kỳ 1945 - 1954, thời kỳ 1954 - 1964, thời kỳ 1964 - 1975.

Khi mà thao tác “chia chác” phân kỳ lịch sử sinh tồn của đối tượng nghiên cứu vốn không thật sự quan trọng với một số tác giả tham gia công trình này, thì thành thực mà nói, việc đòi hỏi GS Mã Giang Lân giải thích tại sao có hai giai đoạn lịch sử bị ông “băm nhỏ” cũng không nên đặt ra trực tiếp. Điều muốn nhắc tới ở đây là để khẳng định xu thế “cách tân” tất yếu của thơ ca Việt Nam ở đầu thế kỷ 20, Giáo sư đã phóng một nhận định toàn cảnh ra toàn cõi Đông Nam Á với một mệnh đề “bí rì”:

“Cách tân thơ ca và văn học nói chung, là một yêu cầu và bước đi cần thiết ở Đông Nam Á, khi mà các nước trong vùng đang muốn đoạn tuyệt với những ràng buộc của các thể chế xưa cũ, hướng về văn minh văn hoá phương Tây.” (tr.443 - 444).

Trong phạm vi hiểu biết của mình, tôi không am tường lắm đối với việc vào đầu thế kỷ 20, ở các nước ở Đông Nam Á khác như Thái Lan, Indonesia, Philippines, Cambodia, Lào... người ta “muốn đoạn tuyệt” như thế nào, chứ bảo rằng “cách tân... là một yêu cầu và bước đi cần thiết” đối với thơ ca và văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20 vì “đang muốn đoạn tuyệt với những ràng buộc của các thể chế xưa cũ, hướng về văn minh văn hoá phương Tây” thì nghe khá khôi hài. Không biết trước thế kỷ 20, thơ ca và văn học Việt Nam nói chung bị ràng buộc bởi “các thể chế xưa cũ” nào đây, hay là các triều đình phong kiến Việt Nam đã ban hành những quy định nghiêm ngặt trong việc viết văn, làm thơ? Từ nội hàm hai chữ “thể chế” với tính cách là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo, tôi tin Giáo sư đã viết và không hiểu điều mình đã viết. Lại nữa, nếu nhu cầu tiếp biến văn hóa trong quá trình tiếp xúc với văn hoá phương Tây trong thơ Việt Nam nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung hồi đầu thế kỷ 20 là “hướng về văn minh văn hoá phương Tây” (một trình bày không chuẩn xác về mặt thuật ngữ - NH) thì xem chừng Giáo sư chưa nắm được bản chất quá trình chuyển đổi hệ hình của văn chương Việt Nam diễn ra trong bối cảnh một “đứt gãy văn hoá” diễn ra hết sức gay gắt, có khả năng làm biến đổi bộ mặt tinh thần của xã hội. Lối xem xét đơn giản ấy còn được bổ sung bằng một nhận định khác, khi Giáo sư Mã Giang Lân đề cập tới thơ giai đoạn đầu thế kỷ, ông cho rằng: “đổi mới thơ, bước đầu bao giờ cũng là đổi mới nội dung cảm xúc, tư tưởng, tình cảm. Chiếm lĩnh thi đàn lúc này là những bài thơ có tinh thần yêu nước. Trên lập trường dân tộc, tư tưởng tư sản dân quyền, thơ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng... đã giản dị, đại chúng nhiều” (tr.445 - 446) và ông dẫn chứng một số tác phẩm của các tác giả kể trên, có đề cập thêm Trần Tuấn Khải, Tản Đà. Vậy là Mã giáo sư không chú ý nhiều lắm tới vị trí của các cụ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương - những người mà chính bản thân họ, cuộc đời “vắt” qua hai thế kỷ và dù chỉ sống một thời gian ngắn ở đầu thế kỷ 20, nhưng họ vẫn có vị trí nhất định trong thơ Việt Nam đầu thế kỷ 20. 
 
Lối nhận định mang màu sắc “mông lung”, tình trạng sao lãng rất nhiều sự kiện, hiện tượng, con người có liên quan trực tiếp đến thơ Việt Nam trong suốt một thế kỷ, liên tục được GS Mã Giang Lân thể hiện trong khi “lướt qua” các giai đoạn phát triển của đối tượng nghiên cứu với tốc độ “siêu thanh”. Với phong cách viết giáo trình và thủ pháp diễn dịch, Giáo sư để cho hàng loạt nhận định “cũ mèm” (đôi khi ngô nghê!) về tác giả, tác phẩm thơ Việt Nam trong một trăm năm vừa qua lũ lượt xuất hiện như muốn chứng tỏ Giáo sư rất “nhất biên đảo” trong khi bày tỏ thái độ kiên quyết không nghiên cứu để phát hiện ra một (những) điều gì đó như là kết quả làm việc của riêng ông, hoặc chí ít cũng là quyết không mới hơn những nhà nghiên cứu khác. Ấy là Tản Đà thì “Khuynh hướng tư tưởng nhà thơ, trước hết là muốn bứt phá khỏi những ràng buộc... “Phá nghiệp” do thời thế, do hoàn cảnh riêng, do cá tính rồi uất ức, ngông nghênh, chán chường... Từ đó tìm lối thoát trong thơ, trong rượu, trong những phóng túng, giang hồ với những thú vui ẩm thực và tình ái mộng mơ trở thành khuynh hướng tư tưởng nổi trội” (tr.449); ấy là “Thế Lữ, người có công đầu xây dựng nền thơ mới bằng những bài thơ hay” (tr.453); ấy là “Lưu Trọng Lư là kiện tướng dũng cảm, tung hoành, sử dụng nhiều loại binh khí chống thơ cũ” (tr.453); ấy là Xuân Diệu “nhà thơ tình số một của Việt Nam... Sống và yêu đều mạnh mẽ, vội vàng, hối hả... là sự tha thiết, trẻ trung” (tr.453); ấy là Huy Cận “Thơ ông thường đi vào cái buồn, cái sầu: sầu nhân thế, sầu vũ trụ, sầu vạn kỷ, thiên cổ sầu...” (tr.454); ấy là Hàn Mặc Tử “Thơ ông bám vào cuộc sống trần thế đâu khổ, bệnh tật nhưng vô cùng đáng yêu và đáng quý, đồng thời lại vút lên tới trăng sao...” (tr.454); ấy là “Nguyễn Bính là nhà thơ của tình yêu trắc trở và tha hương. Những điều ấy lại được phổ vào các thể điệu cổ truyền của thơ ca dân tộc nên càng dễ đi vào lòng người đọc... Những thôn Đoài, thôn Đông, con đò, bến nước, giàn giầu, hàng cau, giậu mồng tơi, khung cửu... đều như nói lên tiếng nói của trai gái yêu nhau” (tr.456 - 457) v.v. và v.v. Với các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới, ý kiến của GS Mã Giang Lân xét đến cùng chưa có gì có thể coi là phát hiện, nếu không nói chỉ ông lặp lại ý kiến của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, chúng làm tôi tự hỏi: khi Hoài Thanh đã nhận xét trước rồi thì nhất thiết phải cần tới một GS Mã Giang Lân trình bày “y chang” như vậy hay không? Tương tự như thế, về các nhà thơ dân tộc thiểu số thời kỳ 1975 - 2000, GS Mã Giang Lân chỉ tốn một công sức duy nhất là liệt kê tên tuổi hơn một chục nhà thơ từ Y Phương đến Thanh Pôn..., rồi ông mượn ý kiến của tác giả Lâm Tiến để nhận xét: “Chưa bao giờ các tác giả dân tộc thiểu số sáng tác về quê hương mình, dân tộc mình với một niềm tự hào, một động lực luôn luôn thôi thúc về một cuộc đổi đời nhiều hứa hẹn như thời kỳ này” (tr.485). Đúng là “nhất cử lưỡng tiện”, chỉ cần liệt kê ra mấy tên tuổi rồi nhờ người khác đánh giá, và tôi coi đây là thủ pháp “đứng trên vai người khác”, khôn thật!

Những nhận định theo lối kể trên được GS Mã Giang Lân phơi phới huy động để dựng lại “bức tranh” của từng thời đoạn lịch sử thơ ca Việt Nam trong thế kỷ 20. Rồi không rõ do quên, do không muốn, do không có khả năng khái quát (?)... mà có tới ba giai đoạn không thấy Giáo sư ngó ngàng gì tới vấn đề đặc điểm của thơ, đến Thơ Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000, lại thấy Giáo sư “tòi” ra ba đặc điểm, (phải chăng Giáo sư muốn phát tín hiệu rằng ông có “nghiên cứu” đấy chứ!?). Xin dẫn lại ba đặc điểm của thơ Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000 do GS Mã Giang Lân khái quát để bạn đọc tham khảo (in nghiêng theo nguyên bản - NH):

- “Nét nổi bật trong thơ sau năm 1975 là khẳng định con người cá tính” (tr.479); “Khẳng định con người cá tính trong đó con người không tự thoả mãn, bằng lòng mà luôn tìm kiếm những giá trị tinh thần” (tr.481);

- “Thế nhưng cá nhân nhà thơ không chỉ là cá nhân riêng lẻ, cách biệt mà bao giờ cũng nằm trong cấu trúc cuộc sống, hoà đồng để trầm tư chiêm nghiệm” (tr.482);

- “Một hiện tượng thấy rõ sau năm 1975 là sự xuất hiện những bài thơ theo xu hướng hiện đại chủ nghĩa” (tr.484).

25 năm thơ, với biết bao nhiêu vấn đề và sự biến động (như “âm hưởng” chiến tranh kéo dài hàng chục năm trong thơ từ thời chiến sang thời bình, như sự xuất hiện những cây bút trẻ, như tình trạng “thơ nghiệp dư tràn lấn” ở năm bảy năm cuối thế kỷ, rồi sự trăn trở đổi mới thơ ca...) hình như chưa xứng đáng lọt vào “tầm ngắm” của một vị Giáo sư chuyên gia nghiên cứu về thơ. 25 năm ấy chỉ có ý nghĩa với ông từ những gì mà dọc đường nghiên cứu ông đã “vớ” được, chứ không xuất phát từ yêu cầu phải khảo sát thơ với tư cách một toàn cảnh theo cả thời gian và không gian để “chỉ ra quy luật vận động có tính lịch sử”, để “nêu lên những đặc trưng loại hình”, để tham gia “tổng kết bước đầu về mặt lý luận tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ 20”. Bảy trang giấy và một vài phân tích, kết luận hết sức hời hợt, đó là tất cả những gì mà GS Mã Giang Lân chiếu cố dành cho thơ Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000. Và tôi xin nhận xét theo lối bi hài rằng nghiên cứu hai mươi nhăm năm thơ Việt Nam cuối thế kỷ chỉ rút ra được mấy đặc điểm “khẳng định cá tính”, với “xu hướng hiện đại chủ nghĩa” thì cơ hồ khiêm tốn quá!

2. “Sự vận động của thơ Việt Nam thế kỷ 20”
hay chỉ là “sự vận động của một vài yếu tố hình thức thơ Việt Nam thế kỷ 20”?

Nhan đề trên đây vừa có tính cách một câu hỏi, vừa hàm chứa sự hoang mang của bản thân tôi, vì nếu sau khi đọc xong chương I tôi vẫn còn le lói chút hy vọng, thì sau khi đọc xong chương II, hy vọng tiêu tan. Hãy xem GS Mã Giang Lân coi những yếu tố nào có khả năng biểu thị Sự vận động của thơ Việt Nam thế kỷ 20:

- Sự vận động của thể loại (với các nội dung: 1. Từ thơ ca truyền thống đến Thơ mới; 2. Thơ mới: từ truyền thống đến tự do và trở về trên cơ sở tâm lý dân tộc, nhạc điệu dân tộc; 3. Xu hướng tự do hoá hình thức thơ; 4. Sự đa dạng về cấu trúc thể loại của thơ sau năm 1975);

- Sự vận động của ngôn ngữ thơ (với các nội dung: 1. Từ ngôn ngữ ước lệ đến tiếng nói hàng ngày, hướng về dân gian; 2. Từ ngôn ngữ thơ lãng mạn đến ngôn ngữ thơ tượng trưng, siêu thực; 3. Ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ nhân dân; 4. Sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ thơ sau năm 1975).

Dẫu không phải là một người nghiên cứu thơ, nhìn vào hai yếu tố trên cùng các nội dung cụ thể của chúng được Giáo sư tập trung phân tích, tôi đã có thể quả quyết đó chỉ là hai trong nhiều yếu tố của hình thức thơ, và ông đã không đề cập tới các yếu tố thuộc về nội dung cảm xúc, thuộc về sự vận động trong thế giới tinh thần đặc thù của nhiều thế hệ nhà thơ Việt Nam trong suốt một thế kỷ... Phải chăng theo Giáo sư, khảo sát sự vận động của thơ hay sự vận động của bất kỳ một lĩnh vực văn chương nào khác cũng chỉ cần quan tâm đến sự vận động của thể loại và ngôn ngữ? Nếu đó là sự thật thì theo tôi, Giáo sư Mã Giang Lân đã gián tiếp biến lời quảng bá của Lời nói đầu rằng công trình “phân tích các vấn đề dưới ánh sáng của loại hình học, thi pháp học, phong cách học” thành ví dụ điển hình cho tính xác thực của câu thành ngữ... “treo đầu dê bán thịt chó”!
 
Điều thú vị ở chương này còn là sự lặp lại chính mình và những nhận định mâu thuẫn với chính mình của GS Mã Giang Lân. Ví dụ:

- Trang 447 - 448 (chương I), ông viết: “Trần Tuấn Khải cũng nghiêng về cảm hứng yêu nước... Nhiều sáng tác khác của ông đều chung một giọng ngậm ngùi tha thiết mà chứa đựng một tấm lòng yêu nước thương nòi”, đến trang 488 ông lại viết: “Trần Tuấn Khải lại nghiêng về cảm hứng yêu nước thương nòi”!

- Trang 450 (chương I) về Tản Đà, ông viết: “Xuất thân Nho gia, dù là một nhà nho tài tử, có đôi lúc “phá nghiệp” ngông nghênh... Cảm hứng lãng mạn đã đẩy cái tôi lên cao để nhìn đời, nhìn người, nhìn cảnh...”, đến trang 487 ông lại viết: “Tản Đà, nhà nho tài tử, tiếp thu văn hoá phương Tây, đã bộc lộ cái tôi cá nhân một cách mạnh mẽ”, và nhận xét này thật sự là một cú “knock out” với một đánh giá trước đó của Giáo sư về Tản Đà: “Khuynh hướng tư tưởng nhà thơ, trước hết là muốn bứt phá khỏi những ràng buộc... “Phá nghiệp” do thời thế, do hoàn cảnh riêng, do cá tính rồi uất ức, ngông nghênh, chán chường... Từ đó tìm lối thoát trong thơ, trong rượu, trong những phóng túng, giang hồ với những thú vui ẩm thực và tình ái mộng mơ trở thành khuynh hướng tư tưởng nổi trội” (tr.449). Rất mong trong một dịp nào đó, GS Mã Giang Lân sẽ chỉ giáo ngõ hầu giúp tôi hiểu rõ sự xuất hiện của “cái tôi” trong thơ Tản Đà có nguồn gốc “do thời thế, do hoàn cảnh riêng, do cá tính rồi uất ức, ngông nghênh, chán chường” hay do “tiếp thu văn hoá phương Tây”?

Thật ra, đọc xong hai chương nghiên cứu của GS Mã Giang Lân, tôi cũng không biết “phê bình” gì hơn, bởi chúng quá gần gũi với những bài giảng, những giáo trình được viết hời hợt, thiếu đầu tư nghiêm túc, thiếu tư liệu... để xử lý các giai đoạn phát triển và sự vận động của thơ Việt Nam trong thế kỷ 20, bởi nó không chứa đựng điều gì khả dĩ có thể coi là khám phá với ý nghĩa là kết quả nghiên cứu của một vị giáo sư. Và đôi khi, tôi chỉ còn biết lắc đầu ngán ngẩm vì thấy trong trang nhiều sách, sau khi lan man chứng minh một vấn đề nào đó thuộc về thơ, thi thoảng Giáo sư lại đưa ra một kết luận khiến tôi không biết đằng nào mà lần, đại loại như:

- Với Thơ mới thì: “công lao của thơ mới là làm bùng nổ những tư tưởng mới trong những cái áo khoác mới được kết bằng những chất liệu quen thuộc truyền thống” (tr.492);

- Với Xu hướng tự do hoá hình thứ thơ thì: “Do yêu cầu phải bộc lộ cái tôi nhà thơ, do nhịp điệu phát triển khẩn trương, náo nức, do giọng thơ cần thay đổi nhiều màu sắc, do yêu cầu tiếp cận hiện thực và âm hưởng hùng tráng,... của trường ca, cho nên trường ca thích hợp với các cây bút trẻ” (tr.504);

- Với thơ sau năm 1975 thì: “Hệ thống ngôn ngữ phong phú, đa dạng, nhiều kiểu loại từ ngữ, ít gặp trong thơ trước năm 1975, làm cho thơ “đời” hơn, nhưng cũng “bụi” hơn” (tr.528).

Để kết thúc phần này, tôi xin mạo muội trình bày nhận xét duy nhất của mình rằng sẽ là hãi hùng nếu ai đó khẳng định công trình khoa học của GS Mã Giang Lân trong Văn học Việt Nam thế kỷ 20 lại có khả năng “chỉ ra quy luật vận động có tính lịch sử”, “nêu lên những đặc trưng loại hình” và tham gia “tổng kết bước đầu về mặt lý luận tiến trình” thơ Việt Nam!


Lời kết
 
Vậy là tôi đã “gõ” xong một bài phê bình gồm năm phần, tương ứng với năm nội dung theo tôi là quan trọng nhất của công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20 do GS Phan Cự Đệ chủ biên. Năm phần ấy ít nhiều cũng có thể giúp bạn đọc nhận diện, nếu bạn xem các ý kiến phê bình của tôi là cầu thị và hướng tới một sự hoàn thiện. Sự thật thì trước khi dừng bàn phím, tôi như thấy phảng phất một cái gì đó trống rỗng, tê tái buồn, rồi phân vân không biết có nên công bố bài phê bình “trường thiên” này hay không, vì thực tâm, tôi hoàn toàn không muốn viết một bài như vậy. Lại nhớ khi biết ý định của tôi sau khi đọc toàn bộ công trình, bạn bè và đồng nghiệp đã dành cho nhiều lời khuyên chân thành, trong đó cổ vũ cũng lắm mà “bàn lùi” cũng nhiều. Người cẩn trọng thì băn khoăn: “Đã đọc kỹ hay chưa?”. Người lo ngại tôi lãng phí công sức thì nói: “Dài như thế báo nào dám đăng!”. Người bi quan trước thực trạng khoa học nước nhà thì bảo: “Ấy cứ sủa đoàn người cứ đi. Ông phê bình mặc ông phê bình. Việc người ta, người ta cứ làm. Đã chết ai. Cứ xem cuốn Văn luận *vừa tái bản thì biết!”... Tóm lại là khá nhiều ý kiến khác nhau đã được bạn bè, đồng nghiệp đưa ra, đủ để tôi tự thấy cần cẩn trọng trước khi ngồi bên bàn máy vi tính.

Và cuối cùng, sau khi cân nhắc, tôi quyết định công bố bài phê bình này, dẫu có làm rầu lòng các tác giả của Văn học Việt Nam thế kỷ 20. Bởi tôi sẽ không công bố nếu sau khi xuất bản, cuốn sách sẽ vô tăm tích như một số công trình nghiên cứu văn chương “dỏm” nhiều hơn “thật” lâu nay. Bởi tôi sẽ không công bố nếu cuốn sách không được Nxb Giáo dục xác định là một sản phẩm “có giá trị khoa học và thực tiễn cao, mang ý nghĩa chính trị, văn hoá, giáo dục sâu sắc, được trình bày và in ấn đẹp, gọi là sách tham khảo đặc biệt” (tr.5). Bởi tôi sẽ không công bố nếu đây không phải là một công trình khoa học có “tầm cỡ quốc tế” từng được trao Giải thưởng Công trình khoa học tiêu biểu của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004. Bởi tôi sẽ không công bố nếu cuốn sách không được quảng bá rùm beng trên báo chí, trên vô tuyến truyền hình và nếu Giáo sư chủ biên không tỏ ra khá tự tin khi trả lời phỏng vấn trong Chương trình phát thanh tiếng Việt của RFI... Tựu trung, đã có rất nhiều lý do tác động đến việc tôi quyết định công bố bài viết này, với mục đích đặt cuốn sách trước dư luận, để mọi người cùng “ngắm nghía” nó từ một góc độ khác hẳn với một số bài giới thiệu mà tôi nhận thấy người viết hầu như... chưa đọc, hoặc nếu có đọc thì cũng chưa khảo sát bằng một lý trí tỉnh táo!
 
Bước sang thế kỷ 21 đã được dăm năm, trong khi hướng tới một nền văn chương - văn học của thời đại mới, chúng ta không thể không nhìn nhận lại chặng đường văn chương - văn học đã qua, không chỉ để định giá mà còn để rút ra những bài học hữu ích cho hiện tại và tương lai. Như một tất yếu khách quan của hoạt động khoa học về văn chương, việc tổng kết, đánh giá văn chương - văn học Việt Nam thế kỷ 20 là một trong những công việc đang được đặt ra trực tiếp. Thiết nghĩ sự ra đời những công trình như Văn học Việt Nam thế kỷ 20 do GS Phan Cự Đệ chủ biên là một sự đáp ứng yêu cầu ấy. Tuy nhiên, nghiên cứu một thế kỷ văn chương - văn học với rất nhiều biến động to lớn trong bối cảnh lịch sử, trong thế giới tinh thần và trong kết quả sáng tạo của hàng chục thế hệ người làm thơ, viết văn, làm lý luận - nghiên cứu - phê bình, theo tôi là một công việc không dễ dàng thực hiện. Mặt khác, từ thực tế hơn nửa thế kỷ qua, đã có nhiều công trình có ý nghĩa tổng kết về một số giai đoạn văn chương - văn học và người nghiên cứu có quyền kế thừa những luận điểm chân xác và thuyết phục. Song ở đây, nên hiểu kế thừa phải được dựa trên cơ sở sáng tạo, không phải là lặp lại ý kiến của người khác hoặc lặp lại chính mình...

Cuối cùng, với một công trình không xác định được phạm vi đối tượng nghiên cứu, một công trình lơ là không giới thuyết các lý thuyết và khái niệm công cụ, một công trình mang dáng dấp sản phẩm lắp ghép, mạnh ai nấy làm, thiếu nhất quán, một công trình hầu như không có phát hiện nào thật sự mới mẻ, một công trình mà nhiều tác giả đã nghiên cứu trong cảm hứng “tự khen mình”, một công trình thiếu vắng quá nhiều tư liệu cần phải khảo sát, một công trình không đạt được mục đích mà nó đặt ra... liệu đã đủ để khẳng định Văn học Việt Nam thế kỷ 20 chưa bảo đảm những phẩm chất khoa học cần có? Câu trả lời xin dành cho tất cả những ai đã đọc, sẽ đọc và kiểm chứng bài phê bình của tôi trong tương quan với nội dung cuốn sách.
   
Hà Nội, 3/2005

--------------------

* Xem Nguyễn Hòa, Những cảm nhận kỳ dị về thi pháp phương Đông, phê bình cuốn Văn luận của Tiến sĩ Đoàn Hương, eVăn, 4/1/2005.

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z