|
Trực diện với 'Văn học Việt Nam thế kỷ 20' [4/5]
(Nhân đọc Văn học Việt Nam thế kỷ 20, Phan Cự Đệ chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004)
(Tiếp theo phần 3)
IV. Lý luận, phê bình: sản phẩm của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp 1. Một thành công giữa ngổn ngang, dang dở
Nếu coi các nghiên cứu về tiểu thuyết, về truyện ngắn, về thơ... của công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20 là những sản phẩm còn ngổn ngang, dang dở thì cũng cần khẳng định Phần bảy với nhan đề Lý luận, phê bình Việt Nam thế kỷ 20 do GS Trần Đình Sử tiến hành là có thành công nhất định, hầu như là phần viết hiếm hoi mà tôi đọc với những hứng thú thực sự.
GS Trần Đình Sử không phân tích “vấn đề dưới ánh sáng của loại hình học, thi pháp học, phong cách học” như quảng bá của Lời giới thiệu (tr.7), ông sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội - lịch sử thông thường (trong khi điều đáng ngạc nhiên là chính ông, chứ không phải ai khác, được giới nghiên cứu văn học coi là người có công hơn cả trong vài chục năm vừa qua đã mang lại ít nhiều cái mới trong việc vận dụng những thành tựu nghiên cứu văn học châu Âu vào nghiên cứu văn học Việt Nam) và ông đưa tới một sản phẩm mà nếu thấu triệt hơn về nguyên tắc nghiên cứu, nếu bổ sung một số nội dung và tài liệu cần thiết, nếu điều chỉnh một vài nhược điểm không đáng có... thì 136 trang sách của GS Trần Đình Sử hoàn toàn có thể sinh tồn như một công trình về lịch sử lý luận, phê bình văn học độc lập và ích dụng. Ngoài chương I Mở đầu với các nội dung:
- Khái niệm về lý luận và phê bình văn học (tr.161)
- Bối cảnh xã hội, lịch sử của một thế kỷ lý luận, phê bình văn học Việt Nam (tr.667)
- Về phân kỳ tiến trình lý luận, phê bình văn học Việt Nam (tr.674) - Về phương pháp nghiên cứu lịch sử lý luận, phê bình văn học (tr.675)
bốn chương còn lại của Phần bảy có nội dung nghiên cứu tương ứng với các giai đoạn 1900 - 1932, 1932 - 1945, 1945 - 1985, 1986 - 2000. Tôi ủng hộ Giáo sư khi ông coi 1945 - 1985 là một giai đoạn của lịch sử lý luận, phê bình văn học Việt Nam, bởi giai đoạn này có những nội dung xuyên suốt của nó và dẫu tác giả không cho biết lý do tại sao ông kết thúc giai đoạn đầu tiên vào năm 1932, kẻ viết bài này vẫn đồ rằng ông dựa trên mốc thời gian 1932, vốn được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là thời điểm ra đời của văn học Việt Nam hiện đại (?).
Nhất quán theo cách đặt vấn đề:
“Ở vào thời điểm đổi mới như hôm nay, độ lùi thời gian đã cho phép ta bớt được nhiều rào đón, nghi thức để nhìn vào các sự thật. Thời gian đã di chuyển tầm nhìn, cho ta nhìn rõ những gì hôm qua chưa rõ” (tr.676);
“khi nghiên cứu lý luận, phê bình cũng cần tách biệt nó khỏi sáng tác để nhìn nhận và đánh giá theo các tiêu chuẩn khoa học của chuyên ngành lý luận, phê bình văn học. Cũng như vậy, cần có sự phân biệt giữa lý luận, phê bình văn học với đường lối văn nghệ của Đảng, bởi các vấn đề của lý luận, phê bình không đồng nhất với các vấn đề của đường lối văn nghệ” (tr.676);
“Tiêu chuẩn để đánh giá các thành tựu lý luận, phê bình chủ yếu là giá trị đối với sự phát triển, tiến bộ của văn học dân tộc, đối với việc đánh giá các giá trị văn học và đối với sự phát triển của bản thân lý luận, phê bình văn học cũng như nâng cao trình độ văn hoá, văn học của người đọc nói chung” (tr.676)...
GS Trần Đình Sử đã phác họa, tổng kết khá đầy đủ bức tranh lý luận, phê bình văn học của từng giai đoạn cụ thể, với diện mạo riêng, đặc điểm riêng, thành tựu riêng và xác lập hệ thống tên tuổi tác giả chuyên ngành trong tương quan với vị trí, công việc họ đã thực hiện. Với các tác giả lý luận, phê bình văn học ở miền Nam trước đây, ở hải ngoại hiện nay, GS Trần Đình Sử cũng nỗ lực để rõ ràng, sòng phẳng khi ông chỉ đề cập đến họ mà không trực tiếp nghiên cứu vì: “Do chưa có đủ tư liệu, chúng tôi chưa giới thiệu về họ” (tr.795). Ông có những nhận xét, kiến giải - tuy có thể còn gây tranh cãi, nhưng trung thực, nhất là đối với những sự kiện - con người “khó nói” (thậm chí rất khó nói) thuộc về lý luận, phê bình trong một thế kỷ qua. Như:
Với GS Vũ Đức Phúc: “... Chuyên luận Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930 - 1945) là một công trình khoa học có giá trị, nhiều tài liệu phong phú, phân tích cụ thể, thuyết phục. Song sự thiếu hiểu biết về đặc trưng văn học, và bệnh suy diễn cực đoan đã làm cho không ít nhận xét của ông rơi vào xã hội học dung tục” (tr.750);
Với GS Hoàng Trinh : “... Ông thể hiện một hướng nghiên cứu văn học liên ngành với ngôn ngữ học. Tuy vận dụng quan niệm và phương pháp mới vào nghiên cứu thơ, tục ngữ, ca dao... song kết quả mang lại chưa được tương xứng” (tr.751);
Về GS Phong Lê: “... Phong Lê nghiên cứu văn học chủ yếu theo các phạm trù đề tài, hình tượng nhân vật, cá tính sáng tạo và đổi mới cách nhìn chủ yếu cũng trong phạm vi đó. Ngòi bút ông nồng nhiệt, xông xáo, có tầm bao quát rộng nhưng càng về sau càng thấy có sự trùng lặp trên nhiều trang viết” (tr.794)
“Một số vấn đề thuộc quá khứ như vụ “Nhân văn Giai phẩm”, một số hiện tượng văn học bị lên án trước đây nay cần có thái độ nhìn nhận lại như thế nào cho chính thức, chưa có ý kiến dứt khoát” (tr.779)...
Tuy nhiên, ngoài việc chưa nhất trí với Giáo sư khi giới thiệu tác giả Đỗ Lai Thuý, ông vẫn đề cập tới Con mắt thơ - một cuốn sách ít nhiều bị tai tiếng là “đạo văn”, người viết bài này vẫn mạo muội xin được thưa với GS Trần Đình Sử, có thể trong khi quá nhấn mạnh vấn đề “cần có sự phân biệt giữa lý luận, phê bình văn học với đường lối văn nghệ của Đảng” mà khi nghiên cứu lý luận, phê bình văn học Việt Nam trước năm 1945, Giáo sư đã chưa quan tâm tới cuộc tranh luận “duy tâm” - “duy vật”, phải chăng ở đây lại rơi vào một sự đơn giản hóa khác? Theo thiển ý của kẻ viết bài này, cuộc tranh luận đó có vai trò như sự khai mở về triết học và khi đặt nó trong tương quan với các cuộc tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật” - “nghệ thuật vị nhân sinh”, cuộc tranh luận về Thơ mới, về Kép Tư Bền, có thể nhận ra mối quan hệ triết học - mỹ học - văn học không kém phần ý nghĩa đối với nhận thức lý luận, phê bình văn học Việt Nam thuở còn trứng nước. Nói cách khác, các mối quan hệ kể trên phải chăng lại không thể hiện quan hệ hữu cơ: phương pháp luận - phương pháp - hệ thống tri thức của một bộ môn khoa học cụ thể?
2. Và vài điều muốn nói...
Tuy vẫn rất trọng thị GS Trần Đình Sử, dưới đây, tôi vẫn không đừng được thêm vài điều muốn nói.
2.1. “Sân chơi của một chàng Narciss”
Nhìn chung khi tiếp xúc với một hiện tượng xã hội - văn hoá (trong đó có văn chương - văn học), thường thì người ta dễ bỏ qua nếu nó chỉ xuất hiện một lần, và người ta sẽ lưu tâm nếu thấy nó xuất hiện nhiều lần. Với công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20, do tần số xuất hiện hơi bị nhiều của “thói tự khen mình” tôi lại ngỡ công trình được nghiên cứu dưới ánh sáng của narcissisme (!). Thấy GS Phan Cự Đệ quảng bá công trình của ông tôi đã ngại ngùng thay; thấy Bùi Việt Thắng khoe khoang đã “dành nhiều công sức nghiên cứu truyện ngắn” tôi lại không ngạc nhiên vì ông vốn thế (!); cả đến phần Lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ 20 do GS Trần Đình Sử tiến hành tôi vẫn không hết kinh hoàng, vì vẫn được tiếp xúc với một “chàng Narciss” thực thụ. Hãy xem GS Trần Đình Sử đã ghi danh ông vào lịch sử lý luận, phê bình văn học ở Việt Nam trong thế kỷ 20 như thế nào:
“Thi pháp học của M.Bakhtin và Đ.Likhachốp được dịch, in rônêô để tham khảo trước đây nay thực sự khởi đầu bằng một số công trình của Trần Đình Sử như Thời gian nghệ thuật trong “Truyện Kiều” (1981), Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du (1982), Thi pháp thơ Tố Hữu (1987) được tiếp nhận phổ biến, có ảnh hưởng đối với các nhà nghiên cứu trẻ ở các trường đại học và viện nghiên cứu” (tr.786);
“Trần Đình Sử (1940) xuất hiện muộn nhưng đã gây được chú ý cho giới nghiên cứu văn học bằng các công trình nghiên cứu thi pháp từ năm 1981... Ông đưa vào nghiên cứu văn học Việt Nam nhiều khái niệm mới như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật... Hướng nghiên cứu của ông có ảnh hưởng rộng rãi trong nghiên cứu văn học những năm 90 thế kỷ 20, mở ra triển vọng nghiên cứu sự vận động và quy luật phát triển hình thức trong văn học Việt Nam...” (tr.792)...;
Đánh giá về thành tích của bản thân mà được như những dòng trên đây của GS Trần Đình Sử quả là rất tự tin, đầy tinh thần quả cảm, đạt tới trình độ “thượng thừa” của khả năng... không biết thế nào là “ngượng bút” và gợi lên trong tôi cảm giác ông muốn biến công trình thành “sân chơi của một chàng Narciss”. Và xin “bình tán” thêm - cũng theo lối trữ tình ngoại đề, dù thành tích “mang” thi pháp học về Việt Nam và “ảnh hưởng” của GS Trần Đình Sử đối với các nhà nghiên cứu trẻ ở các trường đại học và viện nghiên cứu như ông tự nhận đã “rộng rãi” đến thế nào đi chăng nữa, nhưng đọc hàng tá luận văn, luận án văn học dưới ảnh hưởng của “hội chứng thi pháp học” nên tràn đầy những “quan niệm nghệ thuật về con người”, “không gian nghệ thuật”, “thời gian nghệ thuật” với những mô thức còn khá đơn điệu và rập khuôn... tôi chợt lại thấy dường như thi pháp học do GS TS Trần Đình Sử “mang về” chưa thật sự hoàn chỉnh. Nhất là sau khi đã đọc cuốn sách Cấu trúc văn bản nghệ thuật của IU.M.Lotman (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004) thì nỗi e ngại của tôi càng lớn hơn. Hoá ra trong thi pháp học còn có những bộ phận lý thuyết với những khái niệm xem chừng quan trọng không kém (nếu theo nhận thức cá nhân tôi thì còn quan trọng hơn!) mấy khái niệm “không gian nghệ thuật”, “thời gian nghệ thuật”... ghê gớm kia. Là một người luôn đọc và theo dõi đời sống văn chương - văn học những năm gần đây, tôi nhận thấy giá trị thật của những công trình được chế tạo dưới “ảnh hưởng” của GS Trần Đình Sử còn nặng màu trường ốc, và vì thế, chưa có tính năng sản. Trong trường hợp này, để hy vọng mình được coi là người cầu thị, tôi xin tự nhận chưa có khả năng tiếp cận triển vọng nghiên cứu sự vận động và quy luật phát triển hình thức trong văn học Việt Nam đã được GS Trần Đình Sử “mở ra”. Biết làm sao được!
2.2. Giới thuyết bằng lối... nói “theo...”! Nếu có điều kiện đọc các tiểu luận có liên quan tới lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học của GS TS Trần Đình Sử công bố trong thời gian gần đây (như Mấy vấn đề lý luận về phê bình văn học - Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 7 - 2004, Bản chất xã hội, thẩm mỹ của ngôn từ văn học - Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12 - 2004), người ta dễ nhận thấy phong cách đáng yêu của một nhà khoa học “có ảnh hưởng rộng rãi trong nghiên cứu văn học những năm 90 thế kỷ 20” là khi trình bày một luận điểm, ông thường trích dẫn ý kiến tương tự của một “ông tây, bà đầm” hay chí ít cũng là một “bác tàu”. Nên đọc ông, bên cạnh việc phải thừa nhận Giáo sư rất uyên bác, đọc nhiều, biết nhiều... thì một kẻ hay tò mò như tôi vẫn cứ thấy “lăn tăn”, hoặc vì không rõ luận điểm ông trình bày là kết quả của nghiên cứu độc lập hay được “gợi tứ” từ luận điểm của người khác, hoặc vì Giáo sư không đủ tự tin khi trình bày luận điểm nên ông cần có “vật bảo đảm” đi kèm, hoặc nữa là vì ông muốn chứng tỏ khả năng “thuộc bài”? “Niềm lăn tăn” ấy tiếp tục xuất hiện khi tôi đọc phần Khái niệm về lý luận và phê bình văn học (Chương I, Phần bảy). Như đã nhận xét ở phần trên, trong công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20 - những vấn đề lịch sử và lý luận chỉ riêng phần do GS TS Trần Đình Sử thực hiện là có tiến hành giới thuyết khái niệm sử dụng, nhưng dẫu vậy, sự giới thuyết cũng chưa triệt để. Tiếp xúc với tiêu đề Khái niệm về lý luận và phê bình văn học, tôi hy vọng sẽ được lĩnh hội hai khái niệm “lý luận văn học” và “phê bình văn học”, song đọc kỹ 7 trang sách (tr.661 - tr.667) chỉ thấy tác giả phân tích quan hệ giữa phê bình văn học với lý luận văn học, rồi chỉ ra vai trò, mục tiêu, phạm vi... của phê bình, và cung cấp tới hai khái niệm thuộc về phê bình văn học rằng: “Phê bình văn học là hoạt động nghiên cứu, phán đoán giá trị đối với một hiện tượng văn học cụ thể bao gồm tác phẩm, nhà văn, tiếp nhận và cả lý luận, phê bình, xuất phát từ một quan niệm lý luận nhất định, trên cơ sở cảm thụ, thưởng thức tác phẩm” (tr.665) và “phê bình văn học là một hoạt động khoa học nhằm mục đích khái quát, giám định, phát hiện các giá trị, tính chất và quy luật của đối tượng” (tr.666), còn lý luận văn học là gì thì tác giả không nhắc tới, dù chỉ là bóng dáng. Và trong phần Khái niệm về lý luận và phê bình văn học, GS TS Trần Đình Sử tiếp tục phong cách đáng yêu:
- Bác bỏ quan niệm coi “phê bình văn học là thứ ăn theo sáng tác”, ông dẫn lại cuốn sách của Northerop Frye và ý kiến của M. Bakhtin (tr.661);
- Đề cập tới phạm vi của phê bình văn học, ông dẫn lại và phân tích theo quan niệm của Albert Thibaudet (tr.662);
- Lý giải tại sao công trình của mình “tập trung chú ý nhiều hơn vào khu vực chuyên nghiệp”, ông cho rằng vì “Phần lớn các công trình nghiên cứu lịch sử phê bình như của R.Wellek (Lịch sử phê bình văn học cận đại) của J-Y.Tadié (Phê bình văn học thế kỷ 20) đều làm như vậy” (tr.664);
- Về vấn đề “tư duy có tính thẩm mỹ” của phê bình, ông dẫn lại K.Marx (tr.665);
- Về vai trò của yếu tố trực cảm trong phê bình, ông dẫn lại M.Goócki (tr.666);
- Về tình trạng phê bình văn học “có rất nhiều phương pháp khác nhau hết sức phức tạp và đa dạng”, ông phân tích từ mô hình của M.H.Abrams (tr.667)...
Nghĩa là đọc toàn bộ những luận điểm được trình bày trong 7 trang sách, tôi thật sự không phân biệt nổi đâu là luận điểm của chính GS Trần Đình Sử và đâu là của những tác giả được ông dẫn ra. Đành tự răn mình nên bớt chút thời gian của một kẻ làm “phê bình của người đọc” để học hỏi, trau dồi, trang bị thêm tri thức và phương pháp... thì may ra mới có khả năng giải mã trình độ nghiên cứu của một nhà phê bình chuyên nghiệp!
2.3. Loay hoay giữa sự bùng nhùng Mở đầu trang 661, GS Trần Đình Sử viết: “Phê bình, lý luận, nghiên cứu văn học là bộ phận của nền văn học phát triển. Có văn học thì có phê bình. Muốn phê bình có cơ sở chắc chắn thì cần nghiên cứu lý luận văn học, muốn có tầm nhìn phê bình sâu rộng phải phát triển lĩnh vực nghiên cứu, biên soạn các chuyên luận, các công trình văn học sử. Văn học các dân tộc phát triển tới một mức nào đó mới có được nền phê bình với các hình thái phê bình tương tự”. Giáo sư đã cố gắng chính xác hóa, nhưng theo tôi dù có khu biệt trong mấy từ “nền văn học phát triển”, thì nó cũng chỉ chính xác từ một thời đoạn xã hội - lịch sử nào đó trở đi chứ không thể chính xác trong mọi thời đoạn xã hội - lịch sử (như không thể coi văn chương Lý - Trần là phát triển so với hôm nay, nhưng nó lại là sự phát triển trong thời đại của nó). Bởi lẽ, do lý luận là hệ thống những tư tưởng được khái quát từ thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn, cụ thể hơn là những kiến thức được khái quát và hệ thống hoá từ một lĩnh vực nào đó, nên lý luận và phê bình văn học theo đúng nghĩa chúng ta hiểu hôm nay trước hết là sản phẩm của tư duy phân tích, sau đó là chỉ xuất hiện tương ứng với một trình độ nhất định của sự phát triển khoa học. Vì thế phải tới một thời kỳ lịch sử nhất định, với một trình độ tư duy nhất định, với những phương tiện vật chất của xã hội nhất định (như sự xuất hiện của ngành in và sau đó là báo chí...)... thì lý luận, phê bình văn học với tư cách là kiểu loại hoạt động khoa học mới ra đời. Các tiền đề vật chất - tinh thần trên đây không thể xuất hiện trong lịch sử phương Đông thời cổ - trung đại. Xưa kia ở phương Đông, cổ nhân dù có khả năng trực cảm mạnh mẽ đến đâu, dù có trình độ cảm thụ thẩm mỹ tinh tế đến đâu thì do thiếu nền tảng của tư duy phân tích, nên cũng chỉ xây dựng được những quan niệm sâu sắc về văn chương, những thẩm bình chí lý về văn chương, và hiển nhiên không thể coi đó là lý luận văn học (dù là lý luận văn học cổ điển), là phê bình văn học (dù là phê bình văn học cổ điển). Chỉ tới khi sự tiếp xúc Đông - Tây diễn ra ở thời cận - hiện đại thì phương Đông, trong đó có Việt Nam, mới biết lý luận văn học, phê bình văn học là gì. Chính vì thế tôi lấy làm e ngại khi đọc những dòng sau đây của GS Trần Đình Sử: “lý luận, phê bình văn học cổ điển Việt Nam tuy đã xuất hiện cùng văn học từ thế kỷ 11, với các bài bi, ký, tự, bạt, thư, luận, song song với các tập tuyển chọn, sưu tập; hoặc các truyện, thi thoại, đề vịnh, xướng hoạ...” (tr.668)
Tôi rất mong sẽ được Giáo sư chỉ giáo để được biết trong các bài “bi bài bi, ký, tự, bạt, thư, luận... với các tập tuyển chọn, sưu tập; hoặc các truyện, thi thoại, đề vịnh, xướng hoạ...” từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19 thì đâu là “lý luận văn học cổ điển” và đâu là “phê bình văn học cổ điển”?
(Còn nữa)
|