|
Trực diện với 'Văn học Việt Nam thế kỷ 20' [3/5]
(Nhân đọc Văn học Việt Nam thế kỷ 20, Phan Cự Đệ chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004)
(Tiếp theo phần 2)
III. Truyện ngắn: nội dung cũ, thói quen cũ trong một công trình mới 1. Về miếng võ “thuận tay bắt dê”
Truyện ngắn Việt Nam thế kỷ 20 là nhan đề Phần ba do nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng thực hiện, trong đó ở chương I - Truyện ngắn Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, ông Bùi Việt Thắng dành 10 trang để “lập thuyết” qua việc nhắc lại các luận điểm từng được chính ông trình tấu trong cuốn Bình luận truyện ngắn (Nxb Văn học, Hà Nội, 1999) và tiểu luận Truyện ngắn hôm nay (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1 - 2004).
Tương tự như Giáo sư chủ biên, Bùi Việt Thắng cũng không giới thuyết khái niệm “truyện ngắn” là gì, rồi bằng miếng võ “thuận tay bắt dê” ông “khẳng định lại một lần nữa (âu cũng là một thái độ tranh luận)” (tr.262) với những ý kiến đã bác bỏ quan niệm về nguồn gốc truyện ngắn Việt Nam của ông.
Thật ra, tuy không coi Bùi Việt Thắng đã lợi dụng một công trình nghiên cứu khoa học (chứ không phải bài báo khoa học) để biện hộ cho luận điểm của mình, tôi vẫn thấy có điều gì đó bất thường khi trong một cuốn sách được xếp hạng “sách tham khảo đặc biệt” (tr.6) lại chuyển tải một ý kiến rất tùy tiện, không được giới nghiên cứu đồng thuận về lịch sử truyện ngắn Việt Nam. Sau khi bị phê phán, trong công trình này ông lặng lẽ giảm tông để dịch chuyển từ quan niệm: đến Truyền kỳ mạn lục truyện ngắn Việt Nam mới “được khẳng định như một thể loại độc lập trong văn xuôi nghệ thuật” trước đây, sang chỗ coi truyền kỳ chỉ là “gốc rễ sâu xa”. Song trong Văn học Việt Nam thế kỷ 20 ông vẫn còn khai triển thủ pháp “lập lờ đánh lận con đen” nhằm tạo ra ảo giác về sự đúng đắn trong ý kiến ông trình bày. Bùi Việt Thắng viết:
“Chúng tôi thuộc vào số người (khá đông đảo), cho rằng truyện ngắn dân tộc có gốc rễ sâu xa từ trong văn học trung đại Việt Nam. Các giáo sư ở các trường đại học (như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Bùi Duy Tân, Nguyễn Đăng Na,...) đều không hẹn mà gặp ở quan điểm - nguồn gốc truyện ngắn có từ trong văn học trung đại (bắt đầu từ thế kỷ XIV - XVI)” (tr.251)…
“Chúng tôi tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Na: “Đặc điểm của giai đoạn này - XV và VVI - là tự sự văn xuôi đã thoát khỏi mối ràng buộc của văn học dân gian và văn học chức năng, tự sáng tạo ra truyện mới vừa mang đậm sắc thái dân tộc, vừa phản ánh được hiện thực đương thời. Thành tựu nổi bật của thời kỳ này phải kể đến hai tác phẩm, một của Lê Thánh Tông (1442 - 1497) do người đời sau sưu tầm: Thánh tông di thảo, một của Nguyễn Dữ - tác phẩm được mệnh danh là “thiên cổ kỳ bút”: Truyền kỳ mạn lục” (tr.251 - 252)
“Đồng quan điểm với Nguyễn Đăng Na, Bùi Duy Tân cũng đồng lòng xác định: “Còn Truyền kỳ mạn lục thì lại không chỉ là truyện ký lịch sử, mặc dầu tác phẩm có nhân vật và sự kiện ít nhiều có liên quan tới lịch sử. Truyền kỳ mạn lục lại cũng không phải tập truyện đơn thuần ghi chép sự tích có sẵn, mặc dầu hầu hết cốt truyện đã hình thành từ lâu. Truyền kỳ mạn lục cũng như Thánh tông di thảo là một tập truyện phóng tác, phần tưởng tượng, sáng tạo, hư cấu của tác giả rất đáng kể. Tác phẩm là cái mốc đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự trong văn học” (tr.252).
“Theo sưu tầm chú giải của soạn giả Nguyễn Đăng Na trong sách Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập một: truyện ngắn, thì truyện ngắn Việt Nam có thành tựu và xuyên suốt từ Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (cuối thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV) kéo mãi cho đến Mẫn Hiên thuyết loại của Cao Bá Quát (đầu thế kỷ XIX đến năm 1854)” (tr.258).
Cứ tin theo Bùi Việt Thắng thì xem ra số lượng tác giả đồng quan niệm với ông về xuất xứ của truyện ngắn Việt Nam cũng “khá đông đảo”. Tiếc thay, các đoạn trích này lại cho thấy trong khi cố gắng “hiện đại hoá văn học trung đại”, trong khi cố gắng bấu víu vào ý kiến của người khác, Bùi Việt Thắng đã tự bộc lộ “cái gót chân Achilles” trong nghiên cứu của chính ông. Tỷ như:
- Thứ nhất: Bùi tiên sinh đã đánh đồng khái niệm “tự sự văn xuôi” trong ý kiến của Nguyễn Đăng Na, khái niệm “thể loại tự sự trong trong văn học” trong ý kiến của Bùi Duy Tân với khái niệm “truyện ngắn”!
- Thứ hai: Trong khi dẫn lại các ý kiến có lợi cho mình, Bùi tiên sinh làm như không biết tới một ý kiến khác, khá cẩn trọng và đúng đắn, của Nguyễn Đăng Na cũng trong cuốn sách mà Tiên sinh đã dựa dẫm vào, xin dẫn lại: “Dĩ nhiên, cách phân loại nào cũng có tính tương đối của nó. Với văn xuôi tự sự Việt Nam, việc chia thành ba thể loại này (truyện ngắn, tiểu thuyết chương hồi và ký - NH) lại càng mang ý nghĩa tương đối, bởi tính thể loại của chúng rất không rõ ràng” (Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại, tập 1 - tái bản lần thứ hai, Nxb Giáo dục, H à Nội, 2001, tr.15). Không rõ PGS TS Nguyễn Đăng Na sẽ nghĩ sao khi biết Bùi tiên sinh đã xuyên tạc ý kiến của ông như thế?
2. Tín đồ narcissisme và câu chuyện “bổn cũ soạn lại”
Trước đây đọc một vài ý kiến của Bùi Việt Thắng, tôi đã mơ hồ nhận thấy ông là một tín đồ narcissisme. Tới lần này, tôi đã có thể quả quyết ông đích thị là một con người luôn tìm thấy cảm hứng trong việc “tự khen mình”. Dù đã có vài lần biểu diễn hài kịch trước công chúng như tự quảng bá trên tạp chí Văn hoá Văn nghệ Công an rằng “cuốn Bình luận truyện ngắn của Bùi Việt Thắng đã bổ sung thêm vào mảng sách phê bình văn chương một lối viết kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực tiễn vừa bao quát được các vấn đề thể loại vừa phác vẽ diện mạo truyện ngắn đương đại”, rồi trên tạp chí Nghiên cứu Văn học lại khoe đã có ba mươi năm đeo bám truyện ngắn Việt Nam... mà Bùi Việt Thắng như vẫn thấy chưa đủ, trong cuốn sách này ông tiếp tục lăng-xê bản thân qua một đoạn văn hào sảng và tự tin:
“Chúng tôi đã dành nhiều công sức nghiên cứu truyện ngắn: Bình luận truyện ngắn (1999) và Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại (2000), tập trung xác định rõ nguồn gốc truyện ngắn dân tộc, nêu rõ những vấn đề thi pháp hiện đại và cập nhật tình hình sáng tác, dừng lại phân tích khá kỹ (lại khá kỹ! - NH) một số hiện tượng đáng chú ý như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp.” (tr.353).
Thưa Bùi tiên sinh, xin đừng mập mờ qua mấy từ “nhiều công sức” và kỹ xảo marketing hai cuốn sách để “loè” những người chưa tiếp xúc với “trước tác” của ông. Xin phép được nhận xét rằng hai cuốn sách đó chỉ là tập hợp những bài viết hầu như không một tiếng vang, và để tương xứng với cái “bệ thẩm mỹ của công chúng” (chữ của Nguyễn Huy Thiệp - NH) Bùi tiên sinh đã “độn” vào đó hàng trăm trang tư liệu do ông “sưu tầm” từ... sưu tầm của người khác. Vậy nhưng ông lại không quan tâm đến câu chuyện bản quyền, vẫn thản nhiên “trương” cái tên Bùi Việt Thắng ra bìa một một cách kiêu hãnh (!). Trường hợp này, với một người tự trọng và biết tôn trọng người khác, người ta sẽ ghi “Bùi Việt Thắng và nhiều tác giả”. “Hữu xạ tự nhiên hương”, dường như câu thành ngữ ấy không có mặt trong hành trang tinh thần của Bùi Việt Thắng? Lại nữa, thưa Bùi tiên sinh, cái gọi là “đã dành nhiều công sức” bằng cách đi sưu tầm ý kiến của người khác như ông tự thẩm định, với những người làm văn học nghiêm cách, họ chỉ cần tra cứu trong thư viện ít ngày là giải quyết xong xuôi. Vậy hà cớ gì phải kể lể trong một công trình khoa học, nơi người ta không ký hợp đồng cho việc tự marketing? Và xin được “bình tán” theo lối trữ tình ngoại đề rằng không biết có “hẹn” và có “gặp” hay không mà Bùi tiên sinh cùng Giáo sư chủ biên đều “khoe” trong sách này sách kia mình đều viết “khá kỹ”! Đọc Bùi Việt Thắng, tôi còn nhận ra dường như ông chưa được chuẩn bị cẩn trọng về năng lực và tâm thế của người nghiên cứu khoa học. Trong một số trường hợp, đối với Bùi Việt Thắng, nghiên cứu khoa học chỉ là “chiếc áo” mà ông muốn “khoác” lên những sản phẩm tư biện do ông sáng chế ra (như về nguồn gốc truyện ngắn Việt Nam chẳng hạn). Một trong những biểu thị của tình trạng chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng của Bùi Việt Thắng là cái lối trích dẫn phiếm chỉ, như trong Truyện ngắn Việt Nam thế kỷ 20, ông viết:
“Đã có người nói chí lý rằng: “Không phải là nhà chép sử mà là nhà văn mới là người chép lại lịch sử cuộc đời”” (tr.314);
“Nhưng người ta nói Nguyễn Du còn hiện đại hơn các nhà văn hiện đại chủ nghĩa, và mới hơn cả các nhà thơ mới?!” (tr.259);
“Một nhà văn trước năm 1945 sống trong “tháp ngà” của mình hôm nay: “Tôi chỉ biết rằng cái tiếng chào của du kích đưa nhau sang đò một đêm này còn vang hưởng đến tận mãi tương lai đời tôi nữa kia”…” (tr.315);
“Chúng tôi đồng ý với nhận định sau đây của một nhà nghiên cứu...” (tr.351) và ai đó muốn biết nhà nghiên cứu nào đã đưa ra nhận định thì... phải tra cứu trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp!...
Rồi trong các “công trình nghiên cứu”, Bùi Việt Thắng còn có một tập tính hồn nhiên khác là ông tập hợp ý kiến của đồng nghiệp nhiều đến mức không thể nắm bắt được ý kiến của ông trong trường hợp đó là gì. Bạn đọc có thể kiểm chứng điều này nếu tiếp cận với chương VI có tên gọi Một số vấn đề thi pháp truyện ngắn hiện đại Việt Nam, vô số ý kiến đã được dẫn lại trong 19 trang sách và trong đó chủ yếu dẫn lại từ hai cuốn Sổ tay truyện ngắn (Vương Trí Nhàn) và Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký (Tạ Duy Anh chủ biên).
3. Nghiên cứu mà như… không nghiên cứu! Đọc phần Truyện ngắn Việt Nam thế kỷ 20 của Bùi Việt Thắng, người đọc hẳn sẽ luôn luôn phải mỉm cười vì tác giả đã nghiên cứu để rút ra vô số kiến thức và điều khẳng định... rất cũ. Trong nghiên cứu của ông, nhan nhản những kết luận đại loại như: “Truyện ngắn Nguyễn Bá Học nhìn chung có tinh thần phê phán xã hội thuộc địa nửa phong kiến đương thời, đồng thời bộc lộ tâm trạng xót xa của tác giả trước thực trạng đó” (tr.269), “Nghệ thuật viết truyện của Thạch Lam đằm thắm mà tinh tế, tất cả như sâu lắng vào bên trong. Văn Thạch Lam cô đọng, hàm súc, ít lời mà có sức gợi tả rất lớn” (tr.301), còn với Nguyễn Tuân: “Con người luôn tìm kiếm cái đẹp, cái thi vị của cuộc sống ấy có bản ngã rất độc đáo, khác thường, kênh kiệu, lập dị nhưng cũng rất yêu đời, thiết tha gắn bó với cuộc sống và nặng lòng với quê hương đất nước… Chính sự nhạy cảm với cái đẹp và cách nhìn sự vật nghiêng về góc độ thẩm mỹ ấy đã góp phần tạo nên một Nguyễn Tuân “nghệ thuật vị nghệ thuật” trong văn chương cũng như trong cuộc đời” (tr.301 - 302); “Các tác giả truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945 không chỉ vạch mặt, kể tội bọn địa chủ quan lại ở chốn thôn quê, mà còn phản ánh chân thực, sinh động những mặt lố lăng rởm đời trong xã hội thực dân phong kiến. Trong xã hội ấy, đồng tiền chi phối tất cả, nó có sức mạnh vạn năng làm đảo lộn mọi bậc thang giá trị, làm tha hoá đạo đức và nhân cách của con người” (tr.283)... Xem ra với những nội dung kể trên, người ta có thể dễ dàng thâu lượm từ các cuốn sách giáo khoa môn văn trong trường phổ thông, từ sách tham khảo môn văn, cần chi tới một công trình nghiên cứu!
Và đến nhận định sau đây thì tôi chỉ biết buồn thay cho Bùi Việt Thắng, ông viết:
“Là nhà văn lãng mạn viết truyện ngắn, Nhất Linh không chú mục xây dựng các tình huống truyện căng thẳng, nhiều kịch tính hay quan tâm đến những cốt truyện điển hình, các chi tiết sắc nét. Ông dường như chỉ quan tâm đến tâm lý bên trong khá tinh vi của con người mà không phải ai cũng nắm bắt được”. (tr.271)
Vì một lẽ đơn giản rằng, từ sự “không chú mục xây dựng các tình huống truyện căng thẳng, nhiều kịch tính hay quan tâm đến những cốt truyện điển hình, các chi tiết sắc nét. Ông dường như chỉ quan tâm đến tâm lý bên trong khá tinh vi của con người…” kết hợp với những yếu tố khác trong sự nghiệp sáng tác của Nhất Linh mà Nhất Linh được xác định là một “nhà văn lãng mạn”, chứ đâu phải vì là nhà văn lãng mạn nên Nhất Linh mới “không chú mục xây dựng các tình huống truyện căng thẳng, nhiều kịch tính hay quan tâm đến những cốt truyện điển hình, các chi tiết sắc nét. Ông dường như chỉ quan tâm đến tâm lý bên trong khá tinh vi của con người…”! Để định tính phương pháp sáng tác của một tác giả phải xuất phát trước hết từ sáng tác của họ, chứ đâu phải xem họ thuộc trào lưu, trường phái, chủ nghĩa nào rồi suy ra họ sẽ viết như thế này hoặc như thế kia. Cứ theo cái lối viết như vậy thì sẽ là khôi hài nếu nói vì là nhà văn hiện thực phê phán nên Nguyễn Công Hoan viết Cô giáo Minh! Rất nhiều nhận xét có nội dung tương tự như thế đã được Bùi Việt Thắng trình bày, xin không dẫn lại vì lo ngại bạn đọc sẽ choáng váng, chỉ xin dừng lại ở một vài “bắt lỗi” mang tính hu-mua: - Bùi Việt Thắng cho rằng: “Tác phẩm của Nguyễn Dữ được viết bằng lối văn tổng hợp (kết hợp tản văn, vận văn và biền văn)” (tr.255). Than ôi, bất cứ ai đã nghiên cứu văn xuôi Việt Nam trung đại đều biết văn xuôi ấy được viết bằng lối văn nguyên hợp - ngay từ đầu đã hàm chứa các yếu tố riêng rẽ, có lẽ chỉ riêng Bùi tiên sinh coi đó là lối văn tổng hợp mà thôi! - Ở trang 259, Bùi Việt Thắng Viết: “Từ truyền thống sang hiện đại, các nhà nghiên cứu vẫn thường đưa ra những tiêu chí quan trọng như: sự biến đổi quan điểm sáng tác từ “văn dĩ tải đạo” đến “văn là đời”; là sự trợ giúp đắc lực của chữ viết (từ Hán văn, chữ Nôm đến quốc ngữ); là vai trò của “tân văn” (báo chí); là sự tiếp xúc Đông - Tây (giao lưu văn hoá)”. Đoạn văn này chứa đựng một số lỗi chứng minh lối nghiên cứu hời hợt của tác giả. Vì chí ít cũng cần xác định chính sự “tiếp xúc Đông - Tây” là khởi nguồn, giữ vai trò hết sức quan trọng nhất đối với sự ra đời của quan điểm sáng tác, của quốc ngữ, của báo chí..., hiển nhiên không thể coi “tiếp xúc Đông - Tây” có vị trí đồng đẳng với các yếu tố còn lại. Và “tân văn” với lời giải thích là “báo chí”, đã cho thấy Bùi Việt Thắng không có ý niệm chính xác về quan hệ giữa “tân văn” với báo chí trong bối cảnh Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, vì thế ông mới coi “tân văn” chính là “báo chí”!...
4. Vẫn là chuyện về “một thế kỷ thiếu”
Không rõ đã có một sự thống nhất nào đó giữa Giáo sư chủ biên với tác giả Bùi Việt Thắng hay không, mà trong công trình, các ông đều “lờ lớ lơ” quá nhiều tác phẩm - tác giả văn chương Việt Nam ở thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20.
Quả thật nếu tôi vẫn còn có chút phân vân khi thấy trong giai đoạn 1945 - 1975, Bùi Việt Thắng xác định Vũ Thị Thường là một trong các tác giả truyện ngắn tiêu biểu sánh cùng Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nguyễn Thành Long, Đỗ Chu, Nguyễn Khải, thì đến giai đoạn 1975 - 2000 tôi còn phân vân hơn, vì theo Bùi Việt Thắng các tác giả truyện ngắn tiêu biểu cho giai đoạn này chỉ có Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp. Ông cũng có liệt kê tác phẩm của các tác giả từ Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Ma Văn Kháng... đến Bảo Ninh, Nguyễn Bản, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo,... song sẽ là bất thường nếu cho rằng: “truyện ngắn dân tộc 1975 - 2000 có được thành tựu trước hết là nhờ vào sự bổ sung kịp thời đội ngũ nhiều thế hệ bén duyên với truyện ngắn” (tr.337) mà ngoài các tác giả kể trên lại thấy có cả Như Bình, Huỳnh Thạch Thảo (những tác giả tôi không xem thường nhưng nếu đã chọn để ghi danh họ vào lịch sử truyện ngắn Việt Nam cuối thế kỷ 20 thì tôi “hơi bị phản cảm”). Trong khi đó công trình của Bùi tiên sinh lại hoàn toàn vắng bóng những tác giả truyện ngắn khác như Hoà Vang, Bão Vũ, Phạm Hoa, Hồng Nhu, Đức Ban, Nguyễn Đức Thọ, Sương Nguyệt Minh, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Minh Thư, Hồ Anh Thái, Phan Triều Hải, Quế Hương... Tình trạng này buộc tôi đặt ra hai câu hỏi: Phải chăng Bùi Việt Thắng có tiêu chí riêng để “đong đo” truyện ngắn? Phải chăng Bùi Việt Thắng không có khả năng bao quát một cách cập nhật và toàn diện đối với truyện ngắn Việt Nam ở cuối thế kỷ 20? Hai câu hỏi trên sẽ xác thực hơn nếu bạn đọc chú ý tới chi tiết ở trang 315, Bùi Việt Thắng coi Lê Minh Khuê là một trong những tác giả “thành công trong lĩnh vực truyện ngắn” Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, tới trang 317, ông lại quả quyết truyện ngắn dân tộc 1975 - 2000 có được thành tựu trước hết nhờ “sự bổ sung kịp thời đội ngũ nhiều thế hệ bén duyên với truyện ngắn” và trong đó cũng có Lê Minh Khuê! Vậy ra văn chương nước Nam ta có hai tác giả Lê Minh Khuê, vậy mà Bùi tiên sinh không giúp người đọc được “tường minh”!
Cuối cùng, để kết thúc phần này, tôi tiếp tục đề nghị nên thay đổi nhan đề phần truyện ngắn Việt Nam thế kỷ 20 của công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20 thành: Truyện ngắn Việt Nam thế kỷ 20-“thiếu”!
(còn nữa)
|