Phê bình

Thứ hai, 11/04/2005, 09:34
 

Đôi nét về thi pháp và kết cấu của 'Chinatown'

Hoàng Nguyễn

Sau khi đọc báo Sinh viên Việt Nam số 11 ra ngày 16/3/2005, thấy bài phỏng vấn Thuận cùng với quan niệm “viết không phải để làm yên lòng độc giả”, mà, với Chinatown, cô có tham vọng “quấy rầy độc giả”, tôi đã tò mò tìm đến tác phẩm này để xem Thuận “quấy rầy” mình ra sao.

Trong quá trình đọc và khám phá cuốn tiểu thuyết, quả là tôi thấy mình bị “quấy rầy” thật, mà điều khiến tôi cảm thấy bị “quấy rầy” nhiều nhất là những vấn đề về thi pháp và kết cấu của truyện. Trong phạm vi bài viết này, tôi tập trung vào việc “than phiền” về hai vấn đề trên.

Thi pháp hư cấu

Chinatown là tên gọi những khu phố hay cụm khối phố tập trung Hoa kiều hoặc phần lớn cư dân là Hoa kiều; nó đần dần trở thành một “biểu tượng văn hoá” - “biểu tượng của sự tha hương, lữ thứ. Thoạt đọc tên tiểu thuyết, độc giả có thể ngỡ là tác phẩm sẽ viết về Phố Tàu, hay ít nhất, bối cảnh chuyện phải là ở Phố Tàu. Nhưng thực ra không phải thế, Chinatown chỉ là một biểu tượng, là cảm thức xuyên suốt tác phẩm. Người đọc bị ám ảnh ngay bởi một cảm giác, một sự là lạ, quen quen, mong manh, mơ hồ của một “cái gì đó”. Cái gì đó ấy lại trở thành một âm hưởng chủ đạo, thành sự “định hướng” cho người đọc trong toàn bộ quá trình tiếp xúc với tác phẩm. Nhân đây xin nói thêm về cái tên truyện. Dịch Chinatown sang tiếng Việt là Phố Tàu và cho in trên bìa sách, theo tôi là đã giảm đi cái hay, cái độc đáo của nó. Chinatown là một cụm từ rất thông dụng, nó mang tính phổ quát cho tất cả các phố Hoa kiều từ Chợ Lớn đến Belleville hay ở bất kỳ đâu trên thế giới; nó dần dần trở thành một “symbol” có tính toàn cầu. Chinatown biến thành Phố Tàu không sai về mặt dịch thuật máy móc nhưng nó trở nên xa lạ với người đọc (ngay cả với người đọc Việt Nam, vì hôm nay, trong ngôn ngữ thường dùng, có mấy ai nói đến hai từ Phố Tàu hay không?). Phố Tàu (trên bìa sách in là Phố Tầu) đã đánh mất đi tính hàm xúc, tính khái quát, tính biểu trưng, tính biểu cảm của Chinatown rất nhiều.

Trở về thi pháp truyện. Theo người viết bài này, đáng lẽ cái chủ đề chính của truyện cần được giấu đi - giấu thật sâu vào lớp chủ đề, tư tưởng triết mỹ - để khi độc giả đọc đến cuối truyện sẽ suy nghĩ và phát hiện ra. Nhưng Thuận không làm thế, ngay từ đầu cô đã trưng cái đáng lẽ phải được giấu kỹ ra ngay mặt tiền. Độc giả cứ thế mà hoang mang, hụt hẫng mà bước vào không gian tha hương, lang bạt ngay từ đầu, không một chút tự vệ. Mọi quy tắc mỹ học, thưởng thức văn chương cổ điển đều bị dỡ bỏ bắt đầu từ cái sự tréo ngoe ấy. Trong văn học Việt Nam đương đại, tôi bắt gặp một vài sự tương đồng trong cách đặt tựa đề tác phẩm giữa Thuận và Nguyễn Bình Phương. Cả Chinatown lẫn Thoạt kỳ thuỷ, Trí nhớ suy tàn, và thậm chí cả Bả giời đều có ít nhiều điểm giống nhau khi các tác giả đưa ngay ra bản hợp âm chủ đạo, cái “bè” trầm nhất, sâu nhất ẩn sau lớp văn bản lên từ đầu.

Sự bộc lộ của thi pháp hư cấu trong Chinatown có lẽ dễ nhận thấy nhất qua bề mặt câu chữ là cái cách trùng khít giữa tiểu sử tác giả in trên bìa sách với tiểu sử của nhân vật chính. Hình như cả “tôi” và Thuận đều có “Mười bảy năm chè đỗ đen óc lợn hấp nồi cơm Hà Nội. Năm năm bắp cải thịt cừu căng tin đại học tổng hợp Leningrad. Mười năm sáng bánh mì ăn liền, trưa bánh mì, tối bánh mì hoặc mì ăn liền, Paris và các vùng lân cận.”(tr 105) Người đọc cứ thế mà cảm giác như chính mình đang đọc cuộc đời tác giả phơi bày ra trên trang sách... Ở nhiều chi tiết khác, Thuận cũng tỏ ra rất tinh quái, cô sử dụng tiểu sử bản thân, lý lịch cá nhân mình như một loại chất liệu “hiện thực” để chế nhào nặn, đục đẽo, căn chỉnh nên Chinatown. Không chỉ dừng lại ở đấy, Thuận còn “lôi” cả Phượng trong Made in Việt Nam vào “ăn vạ” trong Chinatown. Phượng không chỉ là một nhân vật trong một tác phẩm của tác giả nữa mà bỗng trở thành một con người có thật, bằng xương bằng thịt bước vào gặp tác giả - gặp “tôi” cũng bằng xương bằng thịt ở trên... trang sách. Cái sự xuất hiện của Phượng cũng lằng nhằng lắm thay, Phượng xuất hiện vì “tôi” muốn nhân vật chính của tiểu thuyết I’m yellow là một phụ nữ nhưng tại Phượng; tại “Phượng gõ cửa. Phượng nói chị ơi, chị lại cho em làm nhân vật chính của chị nhé.” Nhưng “lằng nhằng thế mà Phượng thắng. Phượng lẻn vào được hai truyện ngắn của tôi.”(tr103). Và lần này thì “tôi” phải ‘”kiên quyết”, nhân vật chính của I’m yellow là một người đàn ông. Thế đấy, một Thuận ở ngoài đời trùng khít lý lịch với “tôi” trong Chinatown lại trùng luôn cả với nhân vật “gần chính” đồng hành cùng nhân vật chính trong I’m yellow lại còn lằng nhằng với một nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết của tác giả nữa. Đó như một bức “collage” (cắt ráp) từ những câu, những chữ, những chi tiết trong cuộc đời thực của tác giả trộn lẫn với cuộc đời của “tôi” trong Chinatown, với sự hư cấu về thái độ, cách hành xử và phản ứng hoàn toàn do Thuận sáng chế ra đối với Phượng trong Made in Viet Nam, “bạn đồng hành” và cả người đàn ông - “ngày mai tôi ba mươi của I’m yellow. Kỹ thuật “collage” các chi tiết hư cấu và phi hư cấu, thật và không thật của Thuận đầy tinh xảo và kết quả là tạo nên một bức tranh ghép gần như không có đường nối mà người đọc phải kiên nhẫn đọc thật kỹ, so sánh với tiểu sử tác giả, những tác phẩm khác của tác giả mới có thể phân biệt được đâu là yếu tố phi hư cấu, đâu là yếu tố hư cấu.

Nếu như ở những tiểu thuyết đương đại mang hơi hướng “đại tự sự”, các tác giả dùng thủ pháp trộn lẫn giữa các yếu tố hư cấu và phi hư cấu nhằm thuyết phục độc giả bởi tính cách “như thật” của tác phẩm. Ví dụ, trong một quyển tiểu thuyết lịch sử hiện đại gần đây, cuốn Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, để xây dựng được một tác phẩm như vậy, bước đầu tiên có lẽ tác giả đã thu thập những sự kiện, tài liệu, chi tiết... rút ra từ những văn bản lịch sử. Rồi sau đó, dựa trên những sự kiện, chi tiết ấy để “hư cấu” đến độ “chân thực”, nhằm tạo ra một thế giới riêng của nhà văn. Người đọc bị hấp dẫn, bị cuốn hút vào cái hiện thực ấy để khóc, cười cùng nhà văn. Những chi tiết “giả” như chi tiết gội đầu cho công chúa Quỳnh Hoa có suối tóc đen trước khi chết; chi tiết vua Thuận Tôn bị bệnh nặng đêm mất ngủ vì tiếng ếch nhái, vị quan hầu sai lính lội xuống ao dùng roi quật xuống mặt nước cho ếch nhái đừng kêu... là những chi tiết cực kỳ đắt giá về hư cấu. Khi câu chuyện được đánh giá là “thật hơn cả thật” thì nó đã thành công. Tuy nhiên, trong quá trình hư cấu ấy, rất có thể người đọc sẽ tự đánh mất bản thân mình mà chìm đắm vào “hiện thực” ảo trong tác phẩm, nhà văn trở thành người lãnh đạo, người dẫn dụ tình cảm, suy nghĩ và phản ứng của độc giả theo cách mình muốn. Cái cách đọc “truyền thống” ấy bị Mark Acmerica “chê” là “đầu tư rất ít vào việc sử dụng khả năng tự đọc chữ của chúng ta để tự thách đố chính mình trước hình tự sự mang tính thí nghiệm”, cái hình ảnh “đánh mất chính mình trong một cuốn sách” là “điều gì đó hầu hết những độc giả biết chữ đều mong muốn, tưởng như đó là điều tối hậu và chân lý bất biến của một sản phẩm văn chương thành công”. Có lẽ ở Chinatown, bên cạnh việc kỳ vọng “quấy rầy” độc giả còn cả sự kỳ vọng không làm yên lòng độc giả, không mong độc giả đánh mất chính mình trong văn bản tác phẩm: Thuận vẽ ra một mê cung trúc trắc với trạng thái lấp lửng của thực tại, quá khứ và tương lai đa chiều, đa diện, đa góc độ. Độc giả toàn quyền khám phá cái mê cung ấy; toàn quyền hiểu, cảm, nghĩ theo những cách riêng nhất của mình mà hoàn toàn không bị chi phối bởi ý đồ tác giả.

Cái cách Thuận “quấy rầy” độc giả cũng thật khó chịu. Thuận không tường thuật theo lối thông thường, theo cái cách mà “ai cũng hiểu”, cô tường thuật như thể như cô-tác giả chỉ là người chép lại những suy nghĩ, tình cảm, cuộc đời của một ai đó không phải là Thuận mà cũng là Thuận. Tôi cảm nhận thấy rõ có hai “Thuận”: một Thuận vô thức ghi chép tất thảy, không bỏ sót, không tình cảm, suy nghĩ và một Thuận cứ day dứt, trằn trọc, đau đớn. “Thuận suy tư, lý tính” thì cứ suy tư, lý tính; “Thuận ghi chép” thì cứ ghi chép (chứ không hề kể chuyện), độc giả chỉ là người bị bỏ rơi, người ngoài cuộc nhìn vào, nghĩ sao thì nghĩ còn hai cô “Thuận” chỉ làm việc của mình. Và có lẽ “cô Thuận ghi chép” kia hẳn là phải lơ đãng lắm khi hầu hết những suy nghĩ, tâm tưởng của cô Thuận kia về cả quá khứ, về hy vọng, về tương lai đều được “chép” bằng “thì hiện tại”. Ví dụ: “Giấc mơ ngắn nhất, chưa đầy một phút đã xảy ra ngay tại lớp học. Tôi và Thuỵ dẫn thằng Vĩnh ra công viên Thủ Lệ, que kem cốm chưa kịp mút miếng nào thì thằng Vĩnh bị một con đười ươi mười tám tháng bắt làm con tin. Tôi sợ quá bưng mặt khóc. Lũ học trò quay ra ngơ ngác”. (Tr. 117) Những lời tường thuật “kiểu” như thế này, bình thường làm gì có trong thực tại. Người đọc cứ thế mà hoang mang, chông chênh, không hiểu mình đang đứng ở đâu, văn chương hay là cuộc sống, mơ hay tỉnh...? Và cái sự chông chênh này đã tạo nên một khoảng cách khá rõ nét giữa văn chương và cuộc sống thực tại; nhưng khoảng cách này không mang tính cố định, bất biến mà nó liên tục co giãn, xô đẩy người đọc vào trong những tâm thế khác nhau, lôi người đọc vào một cuộc chơi của ngôn ngữ và óc tưởng tượng


Kết cấu

Theo lý thuyết lý luận văn học truyền thống thì kết cấu là “sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan theo một chiều hướng tư tưởng nhất định” (Tr. 143, Lý luận văn học, Khoa Văn, ĐH KHXH & NV, Nxb Giáo dục, 2003). Quá trình này hướng đến hai phần là các yếu tố bên trong (nội dung của tác phẩm) và các yếu tố bên ngoài (bố cục của tác phẩm). Từ đó, kết cấu trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá một tác phẩm hay dở; độc đáo hay không. Chinatown dường như nằm ngoài hệ quy chiếu đó, nó trở thành một hình ảnh thu nhỏ, một bức tranh mô tả nội hàm kết cấu mang thêm nhiều yếu tố mới trong văn chương hiện đại.
 
“Hiện thực” trong Chinatown chỉ là những mảnh vỡ vụn nát, tung toé trong cuộc đời của “tôi”. Những mảnh vỡ đó bộn bề, lộn xộn, bừa bãi trên từng câu, từng chữ của tác phẩm. Quỹ đạo mong manh duy nhất giữ cho những mảnh vụn đó không nát, văng ra là dòng hồi ức lộn xộn, lặn ngụp giữa quá khứ, hiện tại, mộng mị, thực tế, ký ức... của “tôi”. Chinatown là một quyển tiểu thuyết “2 trong 1”. ChinatownI’m yellow lẫn lộn, chuyển hoá lẫn nhau trong một khối đặc quánh 227 trang không chia chương, không thời gian, không không gian cụ thể. Nói riêng về cái tên, hai quyển tiểu thuyết ChinatownI’m yellow đã có một sự gắn bó, liên kết không thể tách rời. Chinatown là biểu tượng của sự tha hương cô độc, của sự mất gốc, đến độ ba quốc tịch mà vẫn vô tổ quốc. I’m yellow (Tôi là dân da vàng) lại là một lời tự giới thiệu đầy tự hào mà cũng không ít chua xót. Dân châu Á - dân da vàng. Nối hai tên của hai quyển tiểu thuyết ta được một thông điệp: Tôi là người da vàng và tôi đang tha hương. Ngắn gọn và chua chát nhưng nó làm nên âm hưởng chủ đạo cho cả tác phẩm. Mặt khác mỗi một “tiểu thuyết” lại vận động theo một quá trình riêng. Chinatown là frame (cái khung) vững chãi cho I’m yellow tự do phát triển bám vào đó. Chinatown bắt đầu từ khi “đồng hồ đeo tay chỉ số mười” và kết thúc khi “đồng hồ đeo tay chỉ số mười hai” như một vòng tròn khép kín. Những hồi ức, suy nghĩ, tình cảm... cứ co giãn đến vô cùng trong giới hạn thời gian hạn hẹp đó. Dường như không gian nghệ thuật không còn sự ràng buộc hay liên hệ gì với thời gian nghệ thuật. “Tôi” đã “hồi tưởng”, đang “hồi tưởng” và sẽ còn “hồi tưởng”. I’m yellow lại khác, nó bắt đầu từ trang thứ 39 của Chinatown, tạm kết ở trang thứ 49 và lại tiếp tục từ trang 125 cho đến trang 151. Từ trước Chinatown, người viết bài này cũng đã bắt gặp kiểu cấu trúc “truyện trong truyện” ở những sáng tác của Nguyễn Bình Phương. Nếu như Thoạt kỳ thuỷ chứa “truyện ngắn trong tiểu thuyết” (Và cỏ trong Thoạt kỳ thủy) thì Chinatown lại có kết cấu “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” (I’m yellow trong Chinatown). Theo suy nghĩ của tôi thì sự vắng mặt của I’m yellow sẽ khiến Chinatown không còn là nó nữa. Nếu cấu trúc của Chinatown là vòng tròn khép kín với mọi suy tư, dằn vặt trong hai tiếng đồng hồ, với sự đã, đang và sẽ tha hương của nhân vật chính, thì I’m yellow lại có cấu trúc mở. Câu chuyện bắt đầu từ sự bế tắc chung của điểm kết thúc của “tôi”(nhân vật nam chính trong I’m yellow) trong cuộc hôn nhân với Loan và sự vô phương, tha hương của “tôi” (nhân vật chính trong Chinatown) ở thì hiện tại, ở sự dằn vặt “tôi chỉ muốn biết Thuỵ ở đâu, gặp ai, làm gì. Những ngày ấy”. Nếu mô hình mỗi nhân vật là một đường thẳng thì hai nhân vật này gặp nhau ở một điểm rồi đi ra đến vô cùng cũng giống như một sự từ bỏ quá khứ để hướng đến tương lai đang rộng mở, khi “những con sông ở lại sau lưng. Những cánh rừng ở lại sau lưng. Hà Nội đã hoàn toàn ở lại sau lưng”. (tr. 151) Hai cấu trúc, một vòng tròn khép kín trong thời gian, diễn biến tâm lý của nhân vật chính trong Chinatown và một góc nhọn bắt đầu từ một điểm của sự bế tắc lại kết thúc ở việc gợi mở tương lai đến vô cùng đối với cả hai nhân vật chính trong I’m yellow. Hai cấu trúc này lồng quyện, đan xen vào nhau tạo thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất. Có thể mô hình hoá hai cấu trúc như sau:

Trong thực tế, khi viết một tác phẩm, nhà văn có thể có hai lựa chọn; hoặc là từ một ý tưởng, bắt đầu sáng tác và để cốt truyện, kết cấu trôi theo cảm xúc; hoặc là lên sẵn một dàn ý chi tiết, một kết cấu cụ thể trước và sử dụng ngôn ngữ như một thứ phương tiện để ghi lại ý tưởng ấy hoặc cố gắng đưa thêm những chi tiết để thêm “da” thêm “thịt” vào “bộ xương” sẵn có cho sống động. Thuận dường như đứng ở giữa ranh giới của cả hai lựa chọn ấy khi cô vừa không bao giờ làm dàn ý cho cái mà mình sẽ viết lại vừa coi ngẫu hứng là sự xa xỉ mà chính Thuận ít cho phép. Có lẽ vì cái tính “lập lờ” ấy mà kết cấu của Chinatown vừa chặt chẽ, thống nhất nhưng cũng cực kỳ linh hoạt và uyển chuyển; và như tôi cảm nhận, nó dường như trở thành một thực thể sống cũng quẫy cựa, giằng xé và suy tư.
 
Bên cạnh cấu trúc trừu tượng khá phức tạp của Chinatown còn có một yếu tố đóng góp rất lớn trong việc “quấy rầy” độc giả ấy là tính “liên văn bản”. Người ta có thể nhìn thấy những đường "links" giữa Chinatown, I’m yellow, Made in VietNam. Chẳng hạn, Phượng từ Made in Viet Nam trở lại lại ăn vạ cả trong Chinatown, I’m yellow và hai truyện ngắn của “tôi”. Còn “tôi”, vốn đang miên man, lặn ngụp trong Chinatown, bỗng nhiên lại thành kẻ “đi ở nhờ” trong I’m yellow. “Tôi” vừa là chủ thể thẩm mỹ, vừa là khách thể thẩm mỹ lại cũng là đối tượng thẩm mỹ. Chỉ hơn hai trăm trang nhưng việc cắt nghĩa rõ ràng những nét trùng khớp, những sự liên quan giữa những truyện ngắn, những tiểu thuyết, những nhân vật, những con người, những cảnh huống... trong Chinatown chẳng đơn giản chút nào.


Kết

Nếu ví von một cách hình ảnh về Chinatown, tôi sẽ không ngần ngại ví nó với một bản nhạc Jazz; một nhịp điệu đều đều, lặp đi, lặp lại qua các giai điệu khác nhau. Toả ra từ nhịp điệu ấy là sự day dứt, cay đắng về thân phận của kẻ tha hương, lữ thứ, thậm chí ba quốc tịch mà vẫn vô tổ quốc. Nhưng với người viết bài này, sự tha hương chỉ như phần nổi của tảng băng, mà phần chìm, cái phần sâu hơn, khó nhận thấy hơn là những cảm thức về sự tan vỡ, sụp đổ của hệ thống niềm tin. Niềm tin ở mỗi cá nhân, nếu được đẩy đến mức cực đoan, đến sự tuyệt đối hoá thì nó trở nên mang tầm vóc tôn giáo. Con người dựa vào niềm tin để hành động, tư duy và phán xét. Mất niềm tin có lẽ là mất mát lớn nhất, thậm chí mất tất cả. Trong Chinatown, khái niệm niềm tin cơ hồ không tồn tại. “Tôi” nhớ về quá khứ chỉ như những gì đã qua, không thể lấy lại; quá khứ hiện lên không phải là hiện thân của nền tảng, gốc rễ, cội nguồn của hiện tại hay tương lai. Hiện tại chỉ đơn giản là những gì đang diễn ra, hiện tại là sự suy tư về quá khứ, những giấc mơ, những ảo giác, những tưởng tượng... và tương lai là sự mịt mờ, mông lung trong tuyệt vọng, dằn vặt. Khi cả quá khứ, hiện tại, tương lai đều không còn ý nghĩa, khi niềm tin vào cuộc sống đã biến mất, sự sống có lẽ chỉ còn giới hạn ở hai chữ tồn tại. “To be or not to be?” - câu hỏi cứ quẩn quanh, ám ảnh những suy nghĩ của tôi khi gấp trang 229 của Chinatown lại.

Hà Nội, 4/2004

----------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Thuận, Chinatown, Nxb Đà Nẵng, 2005
2. Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội Nhà văn & Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2003
3. Lý luận văn học, Khoa Văn, ĐH KHXH&VN, Nxb Giáo dục, 2003
4. Nguyễn Bình Phương, Thoạt kỳ thủy, Nxb Hội Nhà văn, 2004
5. Nguyễn Bình Phương, Bả giời, Nxb Quân Đội Nhân Dân, 2004
6. Nguyễn Thị Minh Thái, Con mắt xanh, Nxb Thanh Niên, 2005
7. Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Quý Ly, Nxb Hội Nhà văn, 2002
8. Báo Sinh viên Việt Nam số 11, ngày 16/3/2005

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z