Phê bình

Thứ năm, 31/03/2005, 07:23
 

eVăn: Tháng 11/2004, nhà xuất bản Giáo dục cho ra mắt công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20 do một tập thể viện sĩ, giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội biên soạn dưới sự chủ biên của Giáo sư Phan Cự Đệ. Cuốn sách dày 972 trang lập tức được quảng bá rầm rộ và được Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá là một trong năm công trình nghiên cứu "có tầm cỡ quốc tế", được trao giải "Công trình khoa học tiêu biểu" của trường năm 2004.

Ý thức được tầm quan trọng của công trình cũng như mức độ ảnh hưởng của nó tới việc nghiên cứu, giảng dạy và phê bình văn học Việt Nam, eVăn giới thiệu loạt bài của nhà phê bình Nguyễn Hòa. Chúng tôi mong sẽ nhận được những ý kiến phản hồi tích cực từ phía các tác giả và độc giả để tạo một diễn đàn cởi mở về Văn học Việt Nam thế kỷ 20.

Nguyễn Hòa

Trực diện với 'Văn học Việt Nam thế kỷ 20' [1/5]

(Nhân đọc Văn học Việt Nam thế kỷ 20, Phan Cự Đệ chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004)

Bị hấp dẫn bởi tên gọi Văn học Việt Nam thế kỷ 20, tôi đã đọc cuốn sách với hy vọng được mở mang tầm nhìn, được bổ sung tri thức, được giúp lý giải các hiện tượng, các vấn đề lý luận - thực tiễn của văn chương - văn học dân tộc trong thế kỷ 20.

Tiếc thay càng đọc thì nỗi thất vọng lại càng lớn dần. Vì hầu như cuốn sách chưa đưa lại nhiều nội dung thật sự mới mẻ và thuyết phục, nếu không nói nó còn dựng lên một bức tranh “hơi bị” cẩu thả trong một số lĩnh vực thuộc về một thế kỷ văn chương - văn học Việt Nam.

Theo dự định ban đầu, sự “mổ xẻ” của tôi chỉ dừng lại ở một bài viết nhỏ, và kết quả cuối cùng lại là sự ra đời của bài phê bình “trường thiên” này như là ý kiến của một người làm phê bình đối với một công trình nghiên cứu văn chương - văn học. Ý kiến ấy có thể còn hạn chế nên khi công bố có thể đẩy tới trao đổi, tranh luận, với ý thức trách nhiệm của người cầm bút, tôi nghĩ các cuộc trao đổi, tranh luận nghiêm túc sẽ giúp chúng ta - nhất là những “nhà phê bình chuyên nghiệp” hay “phê bình kiểu giáo sư”, thống nhất được việc cần làm và loại trừ hướng đi sai lầm (nếu có). Và xin lưu ý, trong bài viết này, cụm từ "văn chương - văn học" tôi sử dụng với ý nghĩa một chỉnh thể bao gồm "văn chương" - dùng chỉ loại hình nghệ thuật ngôn từ, và "văn học" - là khoa học lấy văn chương làm đối tượng nghiên cứu.
Giáo sư Phan Cự Đệ (người thứ 3 từ trái sang) nhận giải 'Công trình khoa học tiêu biểu' năm 2004 của Đại học Quốc gia Hà Nội.
Giáo sư Phan Cự Đệ (người thứ 3 từ trái sang) nhận giải "Công trình khoa học tiêu biểu" năm 2004 của Đại học Quốc gia Hà Nội.


I. Khát vọng lớn nhưng... thao tác bất cập!

Theo Lời nói đầu của cuốn sách, Văn học Việt Nam thế kỷ 20 - những vấn đề lịch sử và lý luận là tên gọi "công trình khoa học trọng điểm của Đại học Quốc gia Hà Nội do một tập thể viện sĩ, giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ thuộc Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Viện Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội hợp tác biên soạn" (tr.7) và do GS Phan Cự Đệ chủ biên. Tháng 11 năm 2004, công trình ra mắt tại Nxb Giáo dục (972 trang, khổ 16 x 24 cm) với tên gọi Văn học Việt Nam thế kỷ 20 và ngay sau đó, cuốn sách đã nhanh chóng được quảng bá khá rầm rộ trên hệ thống thông tin đại chúng. Cũng theo Lời nói đầu thì:

"Công trình này cố gắng tổng kết văn học Việt Nam thế kỷ 20 thành những chuyên luận chạy dọc suốt thế kỷ và phân tích các vấn đề dưới ánh sáng của loại hình học, thi pháp học và, phong cách học. Công trình có nhiệm vụ chỉ ra quy luật vận động có tính lịch sử của văn học thế kỷ 20, đồng thời nêu lên những đặc trưng loại hình văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại. Như vậy đây không chỉ là một công trình thuần tuý văn học sử mà là một tổng kết bước đầu về mặt lý luận tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ 20" (tr.7)...

Đọc những dòng trên, dù Lời giới thiệu tỏ ra khiêm nhường, đại loại như "cố gắng", "bước đầu", thì người ta vẫn nhận ra khát vọng của các tác giả trong khi đặt vấn đề nghiên cứu. Và tôi nghĩ, khát vọng đúng đắn trong khoa học luôn cần phải được tôn trọng và khuyến khích, nhưng quan trọng và đáng quan tâm hơn, lại là cách thức người ta đã tiến hành nhằm đạt tới và hiện thực hoá khát vọng ấy ra sao.


1. Về các tác giả và sản phẩm nghiên cứu
 
Nhìn vào danh sách tác giả của Văn học Việt Nam thế kỷ 20 - những vấn đề lịch sử và lý luận, tôi nhận ra họ được tổ chức theo nguyên tắc “có bột mới gột nên hồ”. GS Phan Cự Đệ chịu trách nhiệm về tiểu thuyết bởi ông đã có cuốn sách Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, chịu trách nhiệm về truyện ngắn là Bùi Việt Thắng - người đã có ba mươi năm “đeo bám” truyện ngắn Việt Nam, chịu trách nhiệm về thơ là GS Mã Giang Lân - chủ nhân của cuốn Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam... Sự tổ chức ấy xem ra là hợp lý về mặt hình thức, nhưng chính nó lại có khả năng tạo ra lực cản, không giúp người nghiên cứu phát hiện thêm những nội dung mới, nhất là với tác giả nào đã sớm thoả mãn với những gì từng công bố, nên đọc họ, đôi khi như phảng phất một số điều gợi nhớ tới cụ Cố Hồng... “biết rồi khổ lắm, nói mãi”! Nói cho thật công bằng, riêng với GS Trần Đình Sử, thì dường như do ông là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, lại chưa có công trình nào liên quan trực tiếp đến mục đích, nội dung của đề tài, phần Lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ 20 do ông thực hiện lại tỏ ra chuyên nghiệp hơn những phần mà các tác giả đã có chút “bột” từ trước. Bên cạnh đó, theo phân công của Hội đồng biên tập (tr.7), PGS TS Hà Văn Đức là một trong hai tác giả thực hiện Phần ba - truyện ngắn, nhưng trong mục lục (tr.970) lại không thấy có phần viết cụ thể nào gắn với tên tuổi ông này. Há chăng đấy là do “lỗi in ấn”? Tôi đồ rằng, còn bởi một lý do nào đó, hoặc tên tuổi Hà Văn Đức xuất hiện trong công trình chủ yếu giúp làm đa dạng thành phần tác giả (!?).

Lại nữa, công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20 có ba nội dung theo tôi, như được viết cho “đủ mâm bát”, chưa đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu thể loại, hoặc chưa phù hợp với mục đích đề tài.
 
- Đó là Phần bốn với nhan đề Ký Việt Nam thế kỷ 20. Phần này, với số trang dành cho khá khiêm tốn, các tác giả khó có thể khái quát toàn cảnh thể loại Ký trong một thế kỷ, và dù muốn cũng khó có thể phân tích, chứng minh và khái quát các quy luật, đặc điểm của thể loại một cách thật sự cụ thể, sâu sắc.
 
- Đó là Chương V, Phần sáu có nhan đề Sự đổi mới kịch hát Việt Nam thế kỷ 20. Phần này do PGS Tất Thắng - nhà nghiên cứu sân khấu thực hiện, và không là sự lạ khi chương này in đậm dấu ấn của sân khấu học, và gần gũi với tổng kết hơn là với nghiên cứu!
 
- Đó là Phần tám có nhan đề Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ 20. Tôi không rõ nghiên cứu ngôn ngữ văn chương chỉ từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy có ý nghĩa như thế nào trong một công trình “có nhiệm vụ chỉ ra quy luật vận động có tính lịch sử của văn học thế kỷ 20, đồng thời nêu lên những đặc trưng loại hình văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại... đây không chỉ là một công trình thuần tuý văn học sử mà là một tổng kết bước đầu về mặt lý luận tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ 20”. Và đọc xong Phần tám, tôi còn thấy có một “vật thể lạ” được “cấy ghép” vào công trình, đấy là Phụ lục có tên gọi Nghiên cứu cụ thể!


2. Về đối tượng nghiên cứu

Trên một ý nghĩa nào đó, "văn học Việt Nam thế kỷ 20" là một khái niệm có phạm vi bao quát rất rộng. Trong thực tế, phạm vi này có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, vì thế không biết tại sao các tác giả của Văn học Việt Nam thế kỷ 20 - những vấn đề lịch sử và lý luận lại không giới thiệu giới hạn nghiên cứu của công trình. Nếu không tính đến văn chương ở vùng tạm chiếm thời kỳ 1945-1954, đến văn chương ở miền Nam dưới chế độ Sài Gòn thời kỳ 1954-1975, đến văn chương của người Việt ở hải ngoại... thì chí ít các tác giả cũng nên giới thiệu đối tượng họ nghiên cứu được khu biệt trong phạm vi nào. (Như với văn học của người Việt ở hải ngoại chẳng hạn, khi mà trong những năm gần đây, tác phẩm của một số nhà văn lâu nay đã định cư ở nước ngoài như Nguyễn Mộng Giác, Thế Dũng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Quỳnh Trang Cindi Nguyen, và gần đây nhất là của Thuận... đã được xuất bản trong nước thì có nên, dù chỉ là bước đầu, bàn đến văn chương của người Việt ở hải ngoại?).

Việc không khu biệt giới hạn nghiên cứu đã đẩy công trình Văn học Việt Nam thế kỷ 20 - những vấn đề lịch sử và lý luận tới sự thiếu thống nhất, đẩy các tác giả đến một tình huống tréo ngoe. Trong khi GS Phan Cự Đệ đề cập tới các tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu..., hay sử dụng một số ý kiến và sự đánh giá văn chương của Nguyễn Văn Trung, Bùi Xuân Bào, Võ Phiến,... để phân tích, luận giải, trong khi GS Trần Đình Sử có nói rõ lý do ông chỉ đề cập mà không nghiên cứu, thì các tác phẩm văn chương ở miền Nam trước đây, cũng như ở hải ngoại hiện nay, lại hầu như vắng bóng trong những phần còn lại, hoặc có điểm qua thì cũng chỉ nhằm chứng tỏ tác giả có biết, có đọc một cách... lơ mơ!?


3. Về sự lựa chọn loại hình học
 
Lựa chọn loại hình học (trong trường hợp này, không rõ có phải là loại hình học đích thực hay chưa?) để phân loại văn chương - văn học Việt Nam thế kỷ 20 quả là có đưa lại cho các tác giả khả năng xây dựng các "chuyên luận chạy dọc suốt thế kỷ", nhưng dường như bằng cách đó, người ta đã lẩn tránh thao tác phân kỳ văn chương - văn học Việt Nam trong thế kỷ 20. Dù sao mặc lòng, một khi ngay trong tên gọi của công trình đã chỉ rõ yêu cầu phải khảo sát đối tượng theo chiều kích lịch sử, thì việc lẩn tránh phân kỳ lịch sử một đối tượng nghiên cứu trải dài trong suốt 100 năm, liệu có là một lựa chọn đúng? Nhất là trong hoàn cảnh phát triển có những đặc thù rất riêng của văn chương - văn học Việt Nam thế kỷ 20, thì việc phân tích văn chương - văn học ở buổi giao thời (cuối thế kỷ 19 đến khoảng 1930), thời đoạn diễn ra sự chuyển đổi hệ hình của cả nền văn học lại vốn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Cách thức tổ chức công trình theo lối loại hình học sơ giản như thế đã không giúp cho các tác giả công trình điều kiện cần thiết và khả thể để phân tích một bối cảnh lịch sử - xã hội phức tạp song lại bao chứa những tiền đề vật chất - tinh thần to lớn đưa tới sự ra đời của văn chương - văn học Việt Nam hiện đại. Không rõ do chưa đặt vấn đề nghiên cứu cho “ra môn ra khoai”, do khảo sát thiếu đầy đủ (?) mà các tác giả chưa chú ý khảo sát, phân tích thật sự kỹ lưỡng sự nghiệp, vai trò của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (ít nhất là thời kỳ cuối của mỗi người), Tản Đà... rồi Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... - những người mà sự nghiệp văn chương đã trở thành cái “gạch nối” sang trọng giữa văn chương Việt Nam truyền thống với văn chương - văn học Việt Nam hiện đại.

Lẩn tránh phân kỳ lịch sử văn chương - văn học Việt Nam trong thế kỷ 20, nói một cách bản chất, thì phải chăng đây chính là cách thức để các tác giả Văn học Việt Nam thế kỷ 20 - những vấn đề lịch sử và lý luận lảng tránh việc phải đưa ra một cấu trúc logic - lịch sử như là một trong những yêu cầu bắt buộc với một công trình mà tự thân mấy chữ “những vấn đề lịch sử và lý luận” đã chuyển tải một tất yếu khách quan đối với thao tác phân kỳ. Tuy vậy, trong các phần nghiên cứu cụ thể, dẫu có muốn "bổ dọc" lịch sử văn chương - văn học để nghiên cứu theo loại hình học, người ta cũng không thể lẩn tránh yêu cầu phân kỳ văn chương - văn học của một thế kỷ, do đó, ngoài phần viết về tiểu thuyết, ở các phần còn lại của cuốn sách, các tác giả đều phải tiến hành phân kỳ lịch sử văn chương - văn học, hoặc phác họa (dù sơ sài) về bối cảnh lịch sử để nghiên cứu. Đưa tới tình trạng là nhiều sự kiện, tác phẩm, nhận xét, trích dẫn... lặp đi lặp lại, nhất là những sự kiện, nội dung có liên quan tới văn chương - văn học Việt Nam ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, như Truyện thầy Lazaro Phiền, như Nông cổ mín đàm, như Đông Dương tạp chí, như Tố Tâm, như văn học dịch, như vai trò của báo chí, như sự hình thành tầng lớp trí thức “tây học”... Phải chăng đây là bằng chứng thể hiện sự cởi mở của Hội đồng biên tập khi đặt vấn đề "tôn trọng phong cách và ý kiến riêng" (tr.7)? Từ góc nhìn khác, tôi nhận thấy tình trạng này bộc lộ sự thiếu nhất quán của các tác giả trong khi xác lập một mục đích nghiên cứu chung. Thiết nghĩ, có thể chấp nhận sự sai chênh giữa các tác giả, nhưng không nên ở mức biến một công trình khoa học có tính tập thể thành nơi trình bày ý kiến cá nhân, như ý kiến của GS Phan Cự Đệ về Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam, hoặc Bùi Việt Thắng bày tỏ “thái độ tranh luận” của tác giả này... mà tôi sẽ phân tích ở các phần sau. Về tình trạng lặp lại, cũng xin nói rằng, ngay một tác giả như GS Phan Cự Đệ cũng không tự biên tập một cách cẩn trọng, như đoạn:

"Trong cuộc hội thảo khoa học quốc tế "Đất nước, con người, văn hóa Hà Lan" do Trung tâm nghiên cứu văn hoá quốc tế (RICC) tổ chức tại Hà Nội năm 1997, giáo sư tiến sĩ Hugo Bousset ở Trường đại học Louvain (Bruxelles) gửi cho chúng tôi một tham luận có cái tên gợi sự tò mò: Tiểu thuyết là một củ hành: Tiểu thuyết hiện đại của Hà Lan và vùng Flandres. Ông cho rằng nhà viết tiểu thuyết phải bóc hết lớp vỏ này đến lớp vỏ khác cho đến khi ta thấy cái lõi của củ hành, ăn vào mắt cay sè, lúc đó ta mới khám phá ra sự thật - chân lý của cuộc sống".
được Giáo sư viết trong cả trang 68 lẫn trang 156!
 
Ngoài ra, cuốn sách còn có một “lẩn tránh” khác, thuộc về thao tác khoa học, ấy là ngoài Phần bảy có nhan đề Lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ 20 do GS Trần Đình Sử thực hiện là có tiến hành giới thuyết khái niệm, còn các phần khác (như về tiểu thuyết, về truyện ngắn...) các tác giả đều... "cho qua" không giới thuyết các khái niệm công cụ. Và hệ quả là có tác giả đi tới sự nhập nhằng giữa "văn xuôi" với "truyện ngắn", giữa yêu cầu nghiên cứu kịch bản văn học với nghiên cứu vở diễn (nghĩa là lấn sân sang công việc của sân khấu học!)... Một tập thể tác giả có tên tuổi “sáng giá” như vậy lại tảng lờ không giới thuyết các khái niệm sử dụng khi nghiên cứu, kể cũng là sự lạ!


4. Về một sự cẩu thả và về những ý kiến đối với "Thi nhân Việt Nam"
 
Phần một của cuốn sách mang nhan đề Các trào lưu và khuynh hướng văn học trong thế kỷ 20 được viết khá công phu, nhưng đa số luận điểm lại không có gì mới mẻ, ít nhất cũng là sự lặp lại chính mình. Việc viện đến phương pháp của văn học so sánh cho phép GS Phan Cự Đệ thoải mái trình diễn sự hiểu biết về văn chương - văn học thế giới, nhất là văn chương - văn học phương Tây, tuy thế lại làm tôi nghi ngờ vì một sự thiếu chuẩn xác mà Giáo sư thể hiện. Mở đầu Chương I - Phần hai, có nhan đề Phân loại tiểu thuyết, GS Phan Cự Đệ viết:

"Trong Phần một chúng ta đã khẳng định những thành tựu (xin nhấn mạnh - NH) của tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ 20 thuộc các trào lưu và khuynh hướng văn học: tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực phê phán, tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa, tiểu thuyết hiện sinh chủ nghĩa. Ở Phần hai này chúng ta sẽ tập trung đi sâu vào những đặc trưng của các loại tiểu thuyết" (tr.133).


Phần một về văn học hiện sinh chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, ông cho rằng:

"Văn chương Chu Tử là một thứ văn chương trâng tráo, vô sỉ, nhằm mục đích hạ thấp nhân phẩm con người... Tác phẩm của Chu Tử nhằm huỷ diệt tất cả những gì là nhân bản, là lý tưởng cao đẹp của con người, đồng thời cổ vũ cho lối sống "hiện sinh" ngổ ngáo, thác loạn, vô liêm sỉ ngoài đường phố". (tr.121)

"Tiểu thuyết hiện sinh Sài Gòn cổ vũ cho lối sống hiện sinh ngoài đường phố, đầu độc thanh niên, đẩy họ vào một lối sống đoạ lạc, vô luân, sống bất cần, nổi loạn và phá phách để rồi đi đến chỗ tự huỷ diệt". (tr.125)

"Người ta đã tiếp thu cái phần đồi bại nhất, tiêu cực nhất trong nhân sinh quan và lối sống hiện sinh rồi xuyên tạc để phô trương, để câu khách hoặc phục vụ cho những âm mưu thâm hiểm của chủ nghĩa thực dân mới" (tr.125)...


quá ẩu (xin nhấn mạnh - NH) hoặc với ông, hai chữ "thành tựu" đã mang một nội hàm hoàn toàn đối lập với hai chữ "thành tựu" theo cách hiểu thông thường (thành công một cách tốt đẹp, hoặc là cái đạt được có ý nghĩa lớn sau một quá trình hành động thành công), hoặc nữa là năng lực còn hạn chế của tôi chưa đủ để nắm bắt thâm ý của Giáo sư khi khái quát các “thành tựu” của tiểu thuyết hiện sinh chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975?

Về trào lưu văn học lãng mạn ở Việt Nam, GS Phan Cự Đệ viết:

“Trong cuốn Phong trào thơ mới (1932-1945) và cuốn Tự lực văn đoàn - con người và văn chương chúng tôi đã viết khá kỹ về trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam trước năm 1945. Ở phần viết này chỉ nêu lên những vấn đề lý luận và văn học sử mà cho đến nay ý kiến vẫn chưa thống nhất hoặc có những điểm cần phải trao đổi thêm” (tr.19).


Để “nêu lên những vấn đề lý luận và văn học sử mà cho đến nay ý kiến vẫn chưa thống nhất hoặc có những điểm cần phải trao đổi thêm”, từ thao tác “bổ dọc” lịch sử theo loại hình học, GS Phan Cự Đệ có điều kiện dành khá nhiều chữ nghĩa trình bày đánh giá của ông về Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (cho dù vấn đề này, dường như nằm trong phần nghiên cứu của GS Trần Đình Sử thì “đúng chỗ” hơn và thực tế ngay trong công trình đã được GS Sử giải quyết khá thấu đáo). Tôi hiểu sự chú ý của GS Phan Cự Đệ là có lý do, bởi ông không đồng tình với một số ý kiến tại hai cuộc hội thảo về Hoài Thanh được tổ chức tại Hà Nội (năm 1992, năm 1999). Song dù bất đồng của Giáo sư với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam có sâu sắc đến đâu, thiết nghĩ Giáo sư không nên cho phép dưới ngòi bút của ông xuất hiện những câu như sau:

"Năm 1927, Hoài Thanh tham gia đảng Tân Việt và viết báo Le Peuple chửi (xin nhấn mạnh - NH) Phạm Quỳnh". (tr.21)

"Và Hoài Thanh không phải không chịu ảnh hưởng ít nhiều lời của Trần Trọng Kim trong một bức thư gửi cho ông khi bị Sở Mật thám bắt (tháng 10/1930) và giải hồi về nguyên quán vì tội viết báo chửi (xin nhấn mạnh - NH) Phạm Quỳnh". (tr.23)

Một người... có văn hoá sẽ không đưa từ "chửi" vào bài viết của mình một cách dễ dãi như thế, trong trường hợp bất khả kháng cũng chỉ nên sử dụng nó như một biện pháp tu từ, như đặt trong ngoặc kép chẳng hạn. Phải chăng qua đây, GS Phan Cự Đệ có ý định bổ sung từ “chửi” với nghĩa đen trần trụi của nó vào hệ thống thuật ngữ của lý luận - phê bình?

Dựa trên một tiền đề giả định: “phải chăng trong những năm 1935-1945, Hải Triều và nhóm “nghệ thuật vì nhân sinh” (Hải Thanh, Trần Huy Liệu, Bùi Công Trừng... đã tiến hành một cuộc tranh luận vô bổ và đã phê phán nhầm đối tượng?” (tr.24), ngoài việc giới thiệu ông đã có bài Viết thêm về Hoài Thanh nhân cuộc Hội thảo “Hoài Thanh - con người và sự nghiệp” (Tuyển tập Phan Cự Đệ, tập III), trong công trình này, tôi ngờ ngợ GS Phan Cự Đệ như muốn cố gắng “bắt vít” tên tuổi của Hoài Thanh vào quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, bất chấp cố gắng đó có thể đặt ông vào những tình thế kỳ quặc. Ông viết:

“Chưa bao giờ Hoài Thanh tự nhận mình là nhà lý luận văn học. Ông là một nhà lý luận nghệ thuật bất đắc dĩ”. (tr.26)

Biết vậy, song Giáo sư vẫn nhận xét Thi nhân Việt Nam như sau:

“Tuy nhiên, Thi nhân Việt Nam vẫn bộc lộ những giới hạn của quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Không đặt thơ mới vào hoàn cảnh xã hội và lịch sử những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945 nên Thi nhân Việt Nam đã ca ngợi thơ mới lãng mạn một chiều, không thấy hết những giới hạn tiêu cực của nó đối với bạn đọc đương thời. Tác phẩm mang tên Thi nhân Việt Nam nhưng vắng mặt hoàn toàn các nhà thơ mới cách mạng và hiện thực. Vì xuất bản công khai, Hoài Thanh không thể giới thiệu Tố Hữu, nhà thơ cộng sản, nhưng tại sao những nhà thơ hiện thực như Tú Mỡ (thành viên của Tự lực văn đoàn) lại không có mặt? Và Hoài Thanh đã bỏ ra ngoài tuyển tập nhiều bài thơ yêu nước tiến bộ của Huy Thông (Con voi già - tặng Phan Bội Châu), và của Hàn Mặc Tử (Đêm khuya tự tình với sông Hương - tặng cụ Phan Bội Châu). Một số nhà thơ được tuyển đến nay đã bị quên lãng với thời gian. Đó là chưa kể những sức ép chính trị khiến ông phải chọn thơ Nguyễn Giang (mà ông không thích) hoặc phải trích lời Phạm Quỳnh (“Truyện Kiều còn, nước ta còn”), một nhân vật mà trước đây ông đã phê phán trên tờ Le Peuple” (tr. 26 - 27).

Viết được như GS Phan Cự Đệ quả là đáng bái phục, nó tương tự như ai đó đặt câu hỏi rằng tại sao xưa kia Christophe Colomb không “quá chân” một chút thì đã phát hiện ra bán đảo Đông Dương! Qua trích dẫn trên, tôi muốn khẳng định GS Phan Cự Đệ chỉ cố gắng chứng minh “lấy được”. Bởi ngoài việc đặt một “nhà lý luận nghệ thuật bất đắc dĩ” và Thi nhân Việt Nam trước một số yêu cầu quá cao (mà tôi tin rằng nếu Giáo sư có là người cùng thời với Hoài Thanh thì ông cũng không thể vượt qua!), GS Phan Cự Đệ còn bộc lộ một lề lối nghiên cứu chủ quan và tuỳ tiện. Ví như việc ông chê trách Hoài Thanh “phải chọn thơ Nguyễn Giang (mà ông không thích) hoặc phải trích lời Phạm Quỳnh (“Truyện Kiều còn, nước ta còn”), một nhân vật mà trước đây ông đã phê phán trên tờ Le Peuple” chẳng hạn. Theo ý kiến của Giáo sư thì một người nghiên cứu, dù “bất đắc dĩ” như Hoài Thanh, lại chỉ nên trích dẫn những tác giả mình “thích” còn những tác giả mình “không thích” hoặc đã chửi (theo cách nói của Giáo sư) thì cho qua? Lại nữa, câu nói của Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn, nước ta còn” có xấu xa đến mức không thể trích dẫn? Là người chủ biên, chẳng lẽ GS Phan Cự Đệ lại không quan tâm trong công trình này, chính đồng nghiệp của ông, GS TS Trần Đình Sử nhận xét:

“Phạm Quỳnh đã mượn Truyện Kiều để biểu hiện lòng yêu tiếng Việt, yêu quốc văn và lòng tự tôn dân tộc của người Việt...” (tr. 682);

“quan niệm của Thiếu Sơn, Hoài Thanh rất phiến diện, quan niệm của phái Hải Triều tuy có cơ sở khoa học, nhưng cũng có phần thô sơ, phiến diện...” (tr.695);

“Cả Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Thiếu Sơn đều muốn tách nghệ thuật ra khỏi hoạt động chính trị của người cầm bút. Đó là một phiến diện rất lớn, thể hiện sự thiếu nhạy cảm với thời cuộc. Còn Hải Triều ngược lại chỉ thấy văn học là “cái sản vật của xã hội”, không thấy đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật, có phần “không hiểu văn chương”...” (tr.700).

Chưa nói, không ít ý kiến của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam được GS Phan Cự Đệ dẫn lại như là “vật đảm bảo” cho một số luận điểm của Giáo sư, chúng làm tôi tự hỏi, liệu có mâu thuẫn gì với việc Giáo sư đã phê phán Hoài Thanh “phải” trích lời Phạm Quỳnh ("Truyện Kiều còn, nước ta còn") vào Thi nhân Việt Nam. Hay ở đây phải liên hệ tới câu “ranh ngôn” thường được người đời nhắc tới trong các trường hợp tương tự rằng “hãy làm như tôi nói, đừng làm như tôi làm”?!

(Còn nữa)

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z