Phê bình

Thứ năm, 16/12/2004, 09:34
 

eVăn: Ngày 26/11/2004, tại hội trường Hội nhà văn số 9 Nguyễn Đình Chiểu đã diễn ra cuộc tọa đàm về 2 cuốn tiểu thuyết Trùng tuKhê Mama của nhà văn Thái Bá Lợi. Tham dự cuộc tọa đàm có nhà thơ Hữu Thỉnh (chủ tọa), nhà văn Nguyễn Trí Huân, nhà phê bình Ngô Thảo, nhà văn Trung Trung Đỉnh, nhà thơ Lê Quang Trang, nhà văn Bảo Ninh, nhà văn Khuất Quang Thụy, nhà thơ Ngô Thế Oanh, nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà văn Nguyễn Việt Hà, nhà văn Phạm Ngọc Tiến, nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn, và tác giả Thái Bá Lợi.

Trong hai cuốn tiểu thuyết, Trùng tu được nhắc đến nhiều hơn. Hầu hết những người tham dự nhận định rằng cuốn tiểu thuyết đã đưa ra một cái nhìn mới mẻ về đề tài chiến tranh, làm thay đổi một thứ “lối mòn” trong văn chương về chiến tranh. Các ý kiến cũng ghi nhận sức mạnh nghệ thuật của Trùng tu: ngôn từ giản dị, tự nhiên, điềm tĩnh, đầy ám ảnh, cùng với những nỗ lực nhất định theo hướng đổi mới tư duy tiểu thuyết. Bài tường thuật cuộc hội thảo này được đăng trên báo Văn nghệ số 51, ngày 18/12/2004. Bài viết dưới đây của nhà thơ Thanh Thảo, đăng bên cạnh bài tường thuật, có thể coi là tiêu biểu cho các ý kiến nói trên.

Thái Bá Lợi trùng tu ký ức

Thanh Thảo

Những nhân vật của Thái Bá Lợi thường bước ra từ ký ức của anh. Không ai có thể nhớ mọi thứ, kể cả nhà văn. Nhưng những khoảng “bất chợt nhớ” của nhà văn có vẻ nhiều hơn của người thường. Những câu văn của Thái Bá Lợi cũng có vẻ được gọi ra từ ký ức, những câu văn vừa hoàn chỉnh vừa lấp lửng. 

Thì ký ức vốn là vậy, nó cũng thường lấp lửng trong hoàn chỉnh, và ngược lại. Trùng tu những điều lấp lửng, những ánh vụt lóe ấy còn gian khó hơn trùng tu Thế Miếu của Huế nhiều. Vậy mà Thái Bá Lợi đã quyết Trùng tu. Đúng ra, anh cùng những nhân vật của mình trùng tu những “bức tường gạch đen sì một vệt dài trong đêm” của quá khứ, cái “ánh nắng đầu tiên” sau những ngày mưa lê thê ở Huế hồi Mậu Thân. Trong đội hình một trung đoàn đánh vào Huế Tết 68, nhân vật của Thái Bá Lợi đã nhắc nhà văn nhớ lại căn hầm hai người đã nằm bên nhau trong Thành Nội, mà bây giờ “bức tường trước cửa hầm thì còn nguyên. Điều kỳ lạ hơn nữa là vệt máu của tao vẫn còn trên tường. Hình như còn cả dấu tay của mày ấn vào đó sau khi băng cho tao” (Trùng tu, trang 13). Nghe đến đây có lẽ người đọc sẽ mỉm cười. Nhưng tác giả đã mỉm cười trước cả người đọc: “Tôi mỉm cười. Nhờ có chút ít kiến thức về cơ chế máu nên tôi không tin hẳn vào lời nói của nó. Con người vẫn thường nhìn thấy những điều mà họ nghĩ”. (Tôi in nghiêng câu này - Th.Th.). Thực ra, không cần có thêm kiến thức về cơ chế máu người ta vẫn biết câu nói của nhân vật có ẩn một ý khác. Cái anh ta nhìn thấy có thể không còn ở nơi mà anh ta nhìn. Nhưng nó vẫn còn đâu đó trong cái khoảng nhớ quên đầy day dứt, đôi khi đau đớn của anh. Và dĩ nhiên, của tác giả. Và Thái Bá Lợi quyết “trùng tu” những nỗi day dứt đó. Không theo kiểu người ta “chơi” bê tông hay xi măng lên những di tích, mà theo kiểu người đi trong đường hầm quẹt lửa lên soi một khoảng tối nào đó của ký ức. Trong thoáng chốc ánh lửa lóe lên, nhà văn cho chúng ta thấy một góc bất chợt một góc bị quên lãng bị xếp xó với biết bao số phận những người lính. Cả một trung đoàn đánh xuống Huế, trụ trong lòng thành Huế mấy chục ngày, rồi rút “lên xanh”, rồi lại hạ sơn, vòng phía sau Huế để thực hiện một mệnh lệnh nào đó của cấp trên nhằm “nghi binh” hay gì gì đó, để cuối cùng, gần như cả trung đoàn bị xóa sổ. Và có thể, không để lại dấu tích gì, bởi chiến tranh đi qua đã lâu, người ta chỉ lưu vào bộ nhớ những gì có lợi cho mình. Thấy lại những vệt máu trên thành Huế của những người lính trung đoàn đó ư? Chuyện hoang đường! Nhưng nghĩa vụ đau đớn của nhà văn là phải nhớ lại những chuyện hoang đường đó, phải cấp lại “sổ đỏ” cho những gì mà người ta đã “xóa sổ” qua tháng năm. Số phận của cả một trung đoàn. Và số phận của những người lính, của từng người lính trong “trung đoàn Igor”1 ấy. Hồi xưa là anh hùng ca. Tráng ca. Bi ca. Bây giờ là rap là rock là linh tinh ca, vu vơ ca, là gì cũng được miễn không phải là tụng ca dễ dãi cái chết của cả một trung đoàn. Tôi đọc Trùng tu mà nhiều lúc cứ nghèn nghẹn. Chính cái giọng văn không đa cảm, cái giọng văn cứ thường thường, cứ tưng tửng, không đao to búa lớn, không triết lý rùm beng của Thái Bá Lợi đã khiến tôi nghèn nghẹn. Và chính câu chuyện không đầu không đũa, nhớ trước quên sau, đứt nối như những cơn mưa bất chợt đã không cho người đọc hời hợt là tôi một chỗ trú ẩn nào. Tôi cứ như bị phơi ra để đối mặt với từng trang sách không ra kể chuyện mà không ra tự thú kia, vừa bị một lực hút khó cản vừa chịu một lực đẩy hay rung lắc vừa phải để không phải đa cảm non hay sướt mướt hão. Tôi biết Thái Bá Lợi đã có thời đi tu. Nhưng tôi nghĩ, anh suốt đời không ra khỏi ngôi-chùa-ngôn-ngữ. Thực ra, nhà văn là kẻ tu hành trong ngôi chùa ngôn ngữ của chính mình, ngôi chùa do mình dựng bằng cách quyên góp số phận những nhân vật, đúng hơn, là những con người mà có thể mình đã sống chung, đã chia sẻ, hoặc mình tưởng đã từng có họ. Rồi có thể, cả một trung đoàn đã chết kia, đã bị “xóa sổ” kia chỉ còn lại trong một cuốn sách dày có 166 trang. Còn lại giữa những câu nói tưng tửng, những ý nghĩ rời rạc, những tình cảm mới chớm và thiếu thời gian để chia sẻ. Không có một mối tình quân dân cá nước hay nước cá nào trong quyển tiểu thuyết ngắn như những ngày vào Huế Mậu Thân này. Nhưng người ta sẽ không quên được những hình ảnh thoáng qua của một ông lão và đứa cháu đã giúp đỡ những người lính trung đoàn; hình ảnh một cô gái tên Mai “có vẻ là đẹp” bởi chẳng thấy mặt người chỉ nghe tiếng nói. Còn những người lính, từ trung đoàn trưởng trở xuống cũng chỉ xuất hiện thấp thoáng, vội vã, ngước nhìn, nói vài câu, rồi đi khuất, như một câu văn bí ẩn của Suksin. 2 Chiến tranh là thế, nhiều khi đến cái chết cũng như tình cờ, như thoáng qua. Tình cờ mà chết, thoáng qua mà chết. Nhưng phải làm sống lại những số phận như vụt thoáng ấy, và làm cách nào là điều mà Thái Bá Lợi đã thử qua hàng loạt truyện ngắn truyện vừa và tiểu thuyết ngắn về đề tài chiến tranh của anh. Với nhà văn, đề tài nào thì cũng thế: đề tài tuyệt vời mà cách viết dở thì cũng xong, cũng vứt. Nhiều khi cách kể một câu chuyện hay một cái gì đại loại như cậu chuyện lại quan trọng hơn chính bản thân câu chuyện. Thái Bá Lợi hiểu điều ấy nên anh bắt đầu những tiểu thuyết của mình bằng những câu văn, bằng những câu đối thoại hay nửa đối thoại nửa độc thoại. Đó là cách hành văn của người tu tập thiền nhiều khi nửa nói nửa dừng, nói như không nói, và ngược lại khi chợt lặng là lúc nói được nhiều hơn. Tôi thích những câu văn của Thái Bá Lợi. Nó không thật rõ ràng, nhiều lúc nó có vẻ không văn xuôi lắm. Anh dường như là người viết chậm, cứ để những câu văn tự chín trong đầu rồi mới từ từ viết ra. Viết như thế không kinh tế thị trường, mà hơi giống cách của người làm vườn. Làm vườn bây giờ thì hầu như thu nhập thấp. Tôi nghĩ Thái Bá Lợi đã chấp nhận thu nhập thấp trong văn chương. Anh trùng tu ngôn ngữ theo cách của anh, không chịu bê tông hóa hay xi măng hóa cho nhanh, cho xong béng. Anh cứ từ từ, nhiều lúc nhẩn nha đến sốt cả ruột. Nhờ vậy, tôi và nhiều người mới có dịp đọc những tiểu thuyết mong mỏng như Bán đảo hay Trùng tu. Dù bây giờ nói thật, tôi cũng chưa rõ Thái Bá Lợi định trùng tu cái gì? Ký ức chiến tranh hay ngôn ngữ của chính anh. Có lẽ cả hai, mà có khi lại là cái khác. Thái Bá Lợi thường không rõ ràng như vậy. Cả trong đời lẫn trong văn.


Văn nghệ, số 51, ngày 18/12/2004

---------------------

Chú thích của eVăn:
1 Bài ca về trung đoàn Igor (Slovo o polku Igoreve), kiệt tác văn chương Nga thời trung cổ, tác giả khuyết danh, một thiên anh hùng ca bi tráng kể về thất bại của đội quân của Hoàng thân Igor Sviatoslavitch xứ Novgorod Seversky trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Polovets (Cumans) vào mùa xuân năm 1185. 

2 Vassili Suksin (1929-1974): nhà văn, đạo diễn và diễn viên điện ảnh nổi tiếng Liên Xô cũ. Tác phẩm nổi tiếng nhất (cả tiểu thuyết và phim) quen thuộc với nhiều người Việt Nam: Kalina đỏ (1973). 

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z