Phê bình

Thứ sáu, 12/11/2004, 20:34
 

Duyên nợ văn chương (về tập tiểu luận "Literary Occasions" của Naipaul)

Mishra, Pankaj

Vào năm 1836, vài tháng trước khi Pushkin mất trong một cuộc đấu súng, tờ báo Telescope của Nga đăng bức thư thứ nhất trong tuyển tập có tên gọi là Thư triết học của nhà quý tộc và cựu sĩ quan Nga Pyotr Chaadaev.

Suốt mấy năm trước đó, những thư này, nguyên viết bằng tiếng Pháp, đã được lén lút lưu truyền trong giới trí thức Nga bị Tây Phương hóa ở Moscow và St. Petersburg - một đám tinh anh mất gốc mà Peter Đại Đế đã tạo ra trong toan tính làm nước Nga ngày một giống Âu Tây hơn. Nhưng, sự xuất bản lá thư thứ nhất, bằng tiếng Nga như trên, như lời của Alexander Herzen, kẻ đã đọc nó một cách say mê khi đang bị lưu đày, đúng là một cú sét trong đêm tối. Có thể nói, đây chính là bước khởi đầu của cuộc sống trí thức Nga, như độc giả sẽ thấy sau đây.

Chaadaev tố cáo sự cô lập và sự tầm thường về văn hóa của nước Nga; ông cũng tố cáo sự bất lực về trí thức của tầng lớp tinh anh Nga mà chính ông là một thành viên. Ông viết:

“Ký ức của chúng ta chỉ vươn tới ngày hôm qua, không xa hơn; chúng ta đều như thế đấy, là những kẻ xa lạ với chính mình… Điều này là hậu quả đương nhiên của một văn hóa gồm toàn những thứ ngoại nhập và bắt chước. Chúng ta nuốt tất cả những tư tưởng đã được làm sẵn. Vận động hành tiến của tư tưởng vốn dĩ để lại một đường hằn không thể phai mờ trong tâm trí con người và đem sức mạnh đến cho trí tuệ, nhưng [vì chúng ta chỉ biết nuốt những ý tưởng có sẵn, nên trong chúng ta không có đường hằn đó, và] cái vận động này không làm nên hình vóc cho trí tuệ của chúng ta. Chúng ta giống như những trẻ không được dạy tự suy nghĩ, và khi lớn, chúng không có bất cứ cái gì của chính mình - mọi tri thức của chúng chỉ là là trên bề mặt hiện hữu, không dính gì tới phần hồn của chúng”.

Với những dòng trên Chaadaev công khai nói lên những nỗi hồ nghi ngày càng lớn dần về chính mình của tầng lớp tinh anh đặc quyền đặc lợi của nước Nga, với thói quen đã định hình từ bao đời là cứ nghển cổ nhìn về một phía trời Tây để tìm một đường hướng văn hóa, nhưng cũng đau đớn thấy mình xa lạ với đại đa số lầm than là dân chúng Nga. Trong một bài thơ, rất sớm, từ năm 1824, Puskhin đã để một nhân vật của mình tự hỏi: “nếu sự thực ở bên ngoài mình, thì biết đâu nó có thể ở một miền đất khác, ở châu Âu chẳng hạn, với trật tự lịch sử vững vàng, với cuộc sống bền chắc về mặt xã hội cũng như về mặt công dân của nó.” Gần như suốt thế kỷ 19, những nhà văn nhà thơ Nga, như Turgenev, Tolstoy, và Dostoevsky, từng người một, bằng cách này hoặc cách nọ, cố gắng minh định mối liên hệ đa đoan của mình với Tây Phương, cũng như với cái xã hội ‘nửa bị bỏ rơi’ (semi-derelict) của họ.

Một trong những đệ tử của Pushkin, Gogol, sau trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong cuộc thức tỉnh lớn lao về tri thức và tâm linh của nước Nga. Ông cho xuất bản những câu chuyện đầu tay trong thời gian 1831-32, bốn năm trước khi xuất hiện bức thư đầu tiên của Chaadaev. Chính những phác thảo nhạy bén, têu tếu này của Gogol về cuộc sống ở Ukraine đã được V.S. Naipaul có lần so sánh với những câu chuyện về thế giới người dân quê Ấn Độ tại Trinidad, mà tác giả là cha của ông, Seepersad. Naipaul thấy và nghe những câu chuyện này trong mười tám năm đầu đời ông trải qua tại Trinidad; rồi, ba năm tiếp theo, từ 1950 cho tới khi cha mất, ông theo dõi diễn biến của chúng từ Anh. Chúng mang lại cho Naipaul không chỉ tham vọng viết văn mà còn - vào thời kỳ đói khổ và tuyệt vọng ở Anh, khi Naipaul bắt đầu viết và không biết xoay sở làm sao để tiếp tục - cái nền tảng cốt tủy cho sáng tác của ông.

Những câu chuyện trên dựa vào kinh nghiệm của Seepersad khi ông làm ký giả và nhân viên nhà nước tại miền quê Trinidad, nơi gia đình ông cùng các hậu duệ khác của những người Ấn đầu tiên tới đây lao động học nghề đã tái tạo một ngôi làng Ấn Độ giống như ở quê cha đất tổ. Họ làm điều này một phần do đầu óc lãng mạn, rằng họ là tượng trưng cho thế giới Hindu của những người dân quê như một toàn thể mang tính thơ mộng điền viên, trong đó những tập tục, nghi lễ, huyền thoại giải thích và thực thi tất cả những ước muốn của con người. Mặc dù những nhân vật của Seepersad đều lấy nguyên mẫu từ người thân trong gia đình và họ hàng, nhưng Seepersad tránh đụng đến tình trạng bị đem con bỏ chợ hay nỗi đau của họ, và luôn cả sự tủi nhục mà chính ông từng trải qua khi còn là một đứa trẻ bị bỏ rơi. Tuy nhiên như Naipaul viết trong lời tựa cho một lần xuất bản những câu chuyện của Seepersad vào năm 1976, “có một số điều chẳng bao giờ có thể trở thành chất liệu [cho việc viết]. Cha tôi suốt đời chưa bao giờ đụng tới điểm dừng mà từ đó ông có thể nhìn lại quá khứ của mình”.

Với Naipaul, sự so sánh với Gogol chấm dứt tại đây. Seepersad tìm ra tiếng nói của ông như một nhà văn vào những năm cực nhọc cuối đời mình tại Port of Spain; Gogol thì tìm thấy nó ngay ở bước đầu khởi nghiệp. Seepersad làm một cuộc hành trình dài, từ gốc gác nhà quê, khám phá ra thiên hướng văn chương của ông qua nghề ký giả, chỉ để cuối cùng nhận thấy mình có quá ít điều để viết. Gogol thì ngay ở những câu chuyện đầu tay đã vượt qua được cái điều mà Chaadaev coi là sự ù lì đáng tủi hổ về tri thức và văn chương và từ đó “có cả nước Nga để nương tựa” và lấy làm chất liệu cho mình.

Naipaul nhận xét, Seepersad bị thui chột vì “cái xã hội không hình dạng, không tên gọi” cũng như hoàn cảnh cá nhân của ông. Ròng rã ba thế kỷ, hòn đảo Trinidad ở vùng Caribean đã là một trại lao động cho những đế quốc châu Âu. Những nô lệ và học viên lao động từ nhiều nơi khác nhau của châu Phi và châu Á đã dần dà thay thế dân da đỏ bản địa. Là một xã hội thuộc địa, nó thậm chí còn có tính nhân tạo, manh mún và phụ thuộc vào phương Tây chính quốc hơn cả nước Nga mà Chaadaev mô tả. Nó cũng quá nhỏ bé, chẳng chút quan trọng về mặt chính trị, và về mặt địa dư, bị tách ra khỏi cả thế giới còn lại. Người ta chẳng mấy khi gặp nó trong sách vở, và, đúng như những toan tính khởi nghiệp văn của cả Naipaul lẫn cha ông cho thấy: có quá ít điều để viết về nó.

Ngay từ đầu, như Naipaul sau này viết trong Đọc và viết (1998), đã có một sự không tương xứng giữa “tham vọng của cha tôi, vốn đến từ bên ngoài, từ một văn hóa khác, với cộng đồng của chúng tôi, vốn không có truyền thống văn học sống động nào”. Như chính Naipaul khám phá ra, đọc thứ văn chương mà Trinidad nhập cảng cùng với ngôn ngữ từ Anh thì chỉ gây hoang mang chứ không phải là có ích. “Những tiểu thuyết gia lớn đó viết về những xã hội có tính tổ chức rất cao. Tôi không sống trong những xã hội đó; tôi không thể chia sẻ những giả định của các nhà văn đó; tôi không thấy thế giới của tôi phản chiếu trong sách của họ.” Daffodil (Thủy tiên vàng) của Wordsworth là ‘một bông hoa đẹp, điều đó chẳng ai hồ nghi, nhưng chúng tôi chưa hề nhìn thấy nó.” Những cuốn sách ngoại chỉ tốt khi chúng có thể chuyển hóa (adapted) vào những điều kiện địa phương. Mưa, mưa phùn và sương mù của Dickens phải biến thành những trận mưa như trút nước của miền nhiệt đới. “Nhưng chẳng nhà văn nào, cho dù tầm nhìn cá nhân cao xa vời vợi cách mấy, có thể tách ra khỏi xã hội của người đó”; và những cuốn sách ngoại nhập vẫn luôn luôn xa lạ và không thể hiểu được.

Cùng lúc, văn học từ châu Âu có một sức quyến rũ không thể nào cưỡng nổi, thứ “quyền lực nhung” này chính là của một nền văn minh thành công, mang tính đế quốc. Nó che mờ tầm nhìn trực tiếp [của chúng ta] về xã hội của chính mình. như Naipaul viết trong một tiểu luận của ông nhan đề Đông Ấn: “Nếu là một tên dân thuộc địa có nghĩa là một tên ngớ nga ngớ ngẩn, khó làm nên trò trống gì, nhất là dưới mắt một kẻ đến từ chính quốc”, thì làm một tên thuộc địa mà còn ôm tham vọng viết văn lại còn nhục nhã và lố bịch hơn gấp bội! [...] Khó mà cưỡng lại mối hồ nghi rằng những đề tài thực sự của văn học chỉ nằm ở châu Âu, trong cái “trật tự lịch sử bền vững và đời sống xã hội và công dân vững chắc của nó."

Chính cái chủ nghĩa thuộc địa ngấm ngầm về tri thức đó đã khiến Naipaul có được “sự can đảm để làm một điều thật là giản dị: gọi tên đường phố Port of Spain, thủ phủ Trinidad”. Nỗi bối rối và khó khăn đó, mãi sau này, sau sáu năm chẳng có chút kết quả ở Anh, dường như vẫn còn dai dẳng nơi ông, ngay cả khi Naipaul bắt đầu tìm cách tự giải thoát mình khỏi truyền thống chính quốc châu Âu và tìm được can đảm để viết về Port of Spain như ông biết. Trong Phố Miguel (1959), cuốn sách đầu tiên của ông được xuất bản, viết về quãng đời trẻ con của ông ở Port of Spain, ông đơn giản hóa và bỏ qua rất nhiều kinh nghiệm. Hồi ức của những nhân vật “tới từ một thời nhức nhối. Nhưng ấy không phải là những gì tôi nhớ. Những hoàn cảnh của gia đình tôi quá hỗn độn; nên tốt hơn hết là tôi đừng ngoáy sâu vào đó.”

Nhưng, như thế là ông đã làm được bước khởi đầu. Phố Miguel đã mở ra quá khứ Trinidad của Naipaul mà chính ông trước đó vẫn chưa coi là những chất liệu có thể sử dụng cho sáng tác, và thế là ông bắt đầu phát triển, khai phá, ngày càng thêm tin tưởng và tự tin. Ba cuốn sách tiếp theo của ông giờ đây được coi là thiên sử thi về thế giới hậu thuộc địa. Một căn nhà cho ông Biswas (1961), Trong tác phẩm này, dựa vào những câu chuyện của cha ông về đồng quê Trinidad cũng như cuộc tìm kiếm sự an toàn và ổn định trong suốt cả đời ông, Naipaul nhìn thấy rõ ràng “sự toàn vẹn và giá trị” của trải nghiệm cá nhân mình vào thời thơ ấu ở Trinidad.

Nhưng chất liệu này đã định hình, “Tôi không có cách chi để mà thêm thắt”, như ông nói. Naipaul vẫn còn vài năm nữa mới đạt tới điều mà sau này ông coi là sự hiểu biết đầy đủ hơn về lịch sử của Trinidad - lịch sử của diệt chủng, bóc lột, khốn cùng và bỏ mặc - mà ông chỉ có được khi tìm tòi nghiên cứu và viết Sự mất mát thành phố vàng El Dorado (The Loss of El Dorado, 1969). Ông vẫn chưa viết được một cuốn sách về những năm ở Anh; và văn chương hư cấu, vốn chỉ “vận hành tốt nhất bên trong những biên cương xã hội cố định”, dường như không thể vận dụng có hiệu quả cái hiểu biết ngày càng dày dặn của Naipaul. Những cuốn sách du lịch về vùng Caribean, và Ấn Độ hứa hẹn một lối thoát; nhưng một lần nữa, lại bật ra cái tham vọng về một văn chương thoải mái, tự do chống lại cái truyền thống văn chương đã được cố định. Bởi vì sách du lịch, như Naipaul khám phá, là một bộ phận còn khó rời tách khỏi truyền thống chính quốc và đế quốc hơn cả tiểu thuyết.

Những nhà du lịch Anh mà Naipaul muốn noi theo - D.H. Lawrence, Aldous Huxley, Evelyn Waugh - đều “viết vào thời đế quốc”; cho nên “trong những câu chuyện du lịch của mình, bản thân họ không tránh khỏi trở thành nửa-đế quốc”. Ông đâu thể làm một nhà văn du lịch theo kiểu đó khi viết về vùng Caribean hay Ấn Độ, xứ sở của tổ tiên ông. Sau đó, ông viết về chuyến đi đầu tiên của mình, vào đầu thập niên 1960 trong Điều bí ẩn khi tới (The Enigma of Arrival, 1987), rằng “chẳng có khuôn mẫu nào cho tôi trong cuộc thám hiểm này, chẳng ông nào giúp được tôi, cả Forster, cả Ackerley lẫn Kipling.” Ông không thể nào đóng vai của họ, không thể có cái vẻ dửng dưng, xa cách, hay cái giọng giễu cợt mát mẻ của họ, bởi vì, “bằng con mắt kẻ du lịch mà nhìn những cộng đồng nửa bị bỏ rơi khác tại một miền đất bị cướp đoạt… là đứng từ xa mà nhìn tình cảnh cái cộng đồng của chính mình.”

Những “nhắc nhở” không thể tránh được đó về quá khứ của mình - cái quá khứ mà ông chưa thể vượt khỏi vào những năm đầu thập niên 1960 - đã làm Naipaul trở thành một “tay du lịch đáng sợ” (the fearful traveller) ở Ấn Độ. Nhưng nó cũng ép ông phải “tự định nghĩa rất rõ ràng với chính mình”: một sự nhìn nhận về một nơi chốn có tính lịch sử và văn học, và điều này trở thành một thói quen ở nơi ông, và, sau cùng, đây là nền tảng cho những nhận xét của ông về những nhà văn khác. Những tiểu luận văn học và có tính tự thuật, nếu đọc cùng với những bài viết về những xã hội Ấn Độ, châu Phi và châu Mỹ, được in trong Nhà văn và thế giới, đưa ra những nhận xét về nhiều người viết rất khác nhau như Kipling, Gandhi, Nira C. Chaudhuri, Conrad và R.K. Narayan. Chúng dựa vào những dẫn giải đặc sắc, uyên nguyên về lịch sử và luôn luôn qui về vấn đề tự xác định mình, tự nhìn ra mình: bằng cách nào nhà văn thể nhập vào hoặc khước từ những giả định sâu xa của cái xã hội mà họ là một thành viên của nó và viết về nó; làm sao, bằng cách nào, thể loại văn học mà họ chọn lựa lại có thể phản ảnh, hoặc làm méo mó, biến dạng những kinh nghiệm đặc thù của họ về thế giới.

Theo Naipaul, sở trường và cũng là sở đoản của Kipling, trong Những câu chuyện đơn giản từ vùng đồi (Plain Tales from the Hills) đều do chỗ ông là thành viên câu lạc bộ Hoàng Gia Anh-Ấn, chốn thoải mái dành riêng cho tầng lớp tinh anh. “Cái thế giới nhân tạo, đầy đủ, thuần nhất đó đâu cần những lời giải thích”. Nó làm cái nhìn châm biếm của Kipling trở nên tinh tế hơn, “riêng tư” hơn, cũng chính làm giọng văn của ông “dẫn dụ, uyển chuyển… dễ đọc, nhưng nén chặt”. Tuy nhiên, theo Naipaul, qua phân tích lịch sử đầy phức tạp của ông, chính nhờ tính Anh-Ấn chật hẹp này mà Kipling viết được tác phẩm đầu tay, nhưng cũng chính nó đã ngăn không cho người Ấn tự hiểu biết về chính họ.

Trong nửa sau thế kỷ 19, người Anh ở Ấn đã chuyển từ “Những Điều Mới Học Được về Châu Âu” mà ban đầu họ là đại diện qua việc Hiện Đại Hóa người Ấn Độ. Họ ngày càng tỏ ra có thiện cảm với “những sự giản dị không mang tính trí thức” của “những người Pathan mắt xanh”, hơn là với những người Bangalis chuyên bàn cãi về thuyết Darwin và Mill. [Vốn là dân] “ngoại ô và ít học”, họ dửng dưng trước những ước mong hiện đại hóa của Ấn Độ, những hoài vọng đã đưa đến sự phục hưng trí thức Bengali thế kỷ 19, và khi nó qua đi, Nirad C. Chaudhuri đã bùi ngùi thương tiếc trong Tự thuật của một người Ấn Độ vô danh (Autobiography of an Unknown Indian, 1951). Chẳng có gì là ngạc nhiên, văn hóa Ấn và Anh cứ thế “nghinh” nhau, và ngôn ngữ chung giữa đôi bên - tiếng Anh - chỉ gây thêm những dở khóc dở cười, những đầu Ngô mình Sở về mặt văn hóa (cultural confusion).

Naipaul nhìn ra “những hiểu lầm và vô bổ trong cuộc gặp gỡ Anh Ấn”, và “sự bối rối về trí thức của một nước Ấn Độ mới” phản ánh trong những tự truyện của người Ấn, trong sự thiếu vắng chi tiết cụ thể và thiếu vắng một sự tự vấn nghiệt ngã ở đó. Những cuốn sách của họ nói với Naipaul về một xã hội “chưa học được cách nhìn và bất lực trong việc tự khẳng định mình, không hề đặt ra những câu hỏi, bởi vì bao lễ nghi tập tục, huyền thoại dân gian... đã cung cấp tất cả những câu trả lời rồi.” “Những ám ảnh về thề nguyền, đồ ăn thức uống, thí nghiệm, bệnh tật tái đi tái lại…” của Gandhi đã biến cuốn tự truyện của ông thành một thứ “tạp nhạp, hổ lốn, trong đó một quan niệm mang tính tôn giáo về cuộc đời, vốn thật tiếu lâm ở nền văn hóa này, lại biến thành một thứ tự yêu mình thật khó chịu khi chuyển qua nền văn hóa kia.”

Với Naipaul, tiểu thuyết ở Ấn là một thí dụ khác về một thể loại văn học bị hiểu lầm và áp dụng sai. Như ông nhìn ra, tiểu thuyết đã phát triển và có những bậc thầy vĩ đại của nó tại châu Âu. Đây đâu phải chuyện tình cờ. [Ở đó], tiểu thuyết bật ra từ bao tác động qua lại phức tạp, chồng chéo, đan xen của nào là những yếu tố lịch sử đặc thù, sự phát triển về kỹ nghệ, sự bành trướng đế quốc, trình độ học vấn của quần chúng, nào là chủ nghĩa thế tục ngày càng mở rộng làm cho nhà thờ mất dần ảnh hưởng độc tôn, nào là sự lên ngôi của giai cấp trung lưu. Tiểu thuyết, thứ thể loại văn học “hấp dẫn làm sao, có vẻ dễ bắt chước làm sao”, như Naipaul viết, trong Đọc và Viết, nó tràn ngập “những giả định của chính quốc [tức của Âu Châu] về xã hội: đọc nó, ắt sẽ học hỏi được thêm, hiểu biết thêm, sẽ có được một ý niệm về lịch sử, một mối quan tâm tìm hiểu về chính mình.” Trong một nước Ấn Độ hậu thuộc địa, Naipaul nhận ra rằng, hoặc những giả định [về xã hội] thì hết thảy đều “sai lầm”, hoặc, cái gọi là học hỏi, hiểu biết thêm, thì đều “thiếu sót, hoặc khiếm khuyết”.

Tiểu thuyết gia R. K. Narayan là “một sự an ủi và một thí dụ”, cho cả ông cụ thân sinh của Naipaul lẫn Naipaul, trong toan tính hoàn tất nhiệm vụ khó khăn là viết bằng tiếng Anh về cuộc sống Ấn Độ. Theo Naipaul, “có vẻ như ông (Narayan) ta viết từ bên trong nền văn hóa của mình”. “Ông ta thực sự sở hữu thế giới của mình. Nó toàn vẹn và luôn luôn sẵn đó, chờ đợi ông ta.” Nhưng cái thế giới đó của ông ta, nếu quan sát thật gần, ta sẽ thấy nó quá tĩnh, [nếu không nói là ù lì, thụ động]. Những nhân vật của Narayan, theo Naipaul có vẻ như được “cách ly một cách kỳ quặc ra khỏi lịch sử”, một lịch sử của thất bại, của khuất phục, cái lịch sử sờ sờ ra một cách ngột ngạt nhường ấy trên toàn thể Ấn Độ đến nỗi cái thế giới hư cấu kia của Narayan rốt cuộc không thể không lộ nguyên hình là “chẳng hề sâu sắc và toàn diện như bề ngoài của nó tỏ ra”. Như Naipaul chỉ ra, tiểu thuyết ở Ấn Độ, và đặc biệt, tiểu thuyết của Narayan, có thể “đụng tới nơi tới chốn những cái bên ngoài của sự vật”, nhưng thường xuyên, “bỏ sót, vờ đi cái yếu tính khủng khiếp của chúng”.

Bản thân Naipaul cũng bắt đầu bằng những cái bên ngoài của sự vật, hy vọng từ đó tới được, thông qua văn chương, “một thế giới trọn vẹn đang đợi chờ tôi ở đâu đó”. Naipaul viết, trong một tiểu luận về Conrad được xuất bản vào năm 1974: “Tôi đã tưởng tượng thấy mình đến Anh như đến một xứ sở thuần túy văn chương, nơi tôi sẽ chẳng gặp trắc trở gì vì những biến cố lịch sử hay nguồn gốc xuất thân, nơi tôi có thể làm ra một sự nghiệp văn chương đầy lãng mạn.” Nhưng hỡi ôi, thay vì vậy, một sự khiếp đảm chính trị (a political panic) tóm lấy ông ngay khi vừa mới ló đầu ra khỏi cái thế giới tù đọng của vùng đất thuộc địa Trinidad. Dời tới một thế giới lớn hơn, đối với Naipaul nghĩa là ngộ ra một lịch sử đế quốc độc địa, tàn nhẫn, và cùng lúc thấm thía vị trí của mình ở trong đó; nghĩa là dấn mình vào những xã hội dở dang (half-made societies) cứ thường xuyên tự làm ra mình rồi lại phá bỏ chính mình (constantly made and unmade themselves); những phát hiện đau đớn đó, thay vì dần dần lắng dịu, lại càng trở nên nhức nhối khi ông dám chọn cho mình một ‘nghiệp văn” ở nước Anh.

Hầu như trơ trọi một mình, đơn độc giữa tất cả những nhà văn lớn viết bằng tiếng Anh, nhưng dường như chính Conrad đã giúp Naipaul thấu hiểu cái hoàn cảnh trớ trêu của ông: một tay lưu vong tới từ một vùng đất thuộc địa, và đang loay hoay cố tìm cho bằng được chỗ đứng như một nhà văn ở một nước đế quốc (nguyên văn: thấy mình làm việc trong một thế giới và truyền thống văn học được nhào nặn bởi đế quốc; finds himself working in a world and literary tradition shaped by empire). Conrad là “nhà văn hiện đại đầu tiên” mà Naipaul đã được cha giới thiệu. Thoạt đầu, ông này làm Naipaul bị khớp, bởi “những câu chuyện bản thân chúng thật giản dị, và, tới một giai đoạn nào đó, dường như chúng luôn luôn trượt ra khỏi tôi”. Sau đó, ông lại có những cách hiểu ngây thơ chất phác. Đọc Giữa lòng đêm tối[1], ông coi như là sự đương nhiên rằng “nền tảng của Phi Châu là thế đó - một vùng đất bại hoại bởi sự cướp bóc, bóc lột, và bởi sự độc ác “có môn bài” (licensed cruelty).

Du lịch và viết về sau là một cách để phô bày sự ngây thơ chính trị này của người dân thuộc địa. Với Naipaul, giá trị của Conrad - cũng là một kẻ “ngoại nhân” ở nước Anh và là một nhà du lịch kinh nghiệm đầy mình ở Á Châu và Phi Châu - nằm ở trong sự kiện là, “bất cứ xó xỉnh nào thì ông ta cũng tới trước tôi”, và “ông ta đã suy tư nghiền ngẫm về thế giới của tôi”, về “những nơi chốn tối tăm, xa vời”, ở đó, những con người, “vì bất cứ lý do nào, bị chối từ nhìn thấy một cái sáng rõ về thế giới”.

Naipaul coi tác phẩm của Conrad là đã “thâm nhập vào rất nhiều ngóc ngách của thế giới, mà ông ta thấy tối đen ở đó.” Naipaul gọi điều này là “một đề tài suy tư theo kiểu Conrad”; “nó nói cho chúng ta một điều về thế giới mới của chúng ta,” Naipaul viết. Chưa từng có nhà văn nào suy tư về những trò trớ trêu này của lịch sử một cách triền miên không dứt như Naipaul, nhưng ở ông có một sống động dường như đối nghịch với cái u buồn điềm tĩnh và thoáng chút tự mãn của Conrad. Có vẻ như Naipaul cố làm rõ mãi và đào sâu thêm mãi cái tri thức và kinh nghiệm mà dường như đã trọn vẹn và chắc như đinh đóng cột ở Conrad. Tựu trung, những cuốn sách của Naipaul không chỉ miêu tả mà còn cho thấy bằng cách nào khởi từ “những nơi chốn tối tăm và xa xôi” của Conrad, ông chậm rãi và khó nhọc tiến đến nơi có “một cái nhìn sáng rõ về thế giới”. Chẳng có điểm nghỉ ngơi nào trong chuyến đi này, cái chuyến đi mà bây giờ, thật mỉa mai, dường như là một hành trình đảo ngược chuyến đi vào giữa lòng đêm tối của Conrad. Mỗi cuốn sách, là một bắt đầu mới, nó tháo bung những gì trước nó. Điều này giải thích tấn bi kịch lặp đi lặp lại không bao giờ dứt của Sự Tới (arrival), và cái dường như là một ám ảnh từ lúc khởi nghiệp văn, trong tác phẩm của Naipaul.

"Có đến một nửa những tác phẩm của nhà văn là để loay hoay khám phá đề tài”, Naipaul viết, trong Lời mở cho một tự thuật. Nhưng văn nghiệp của chính ông cho thấy, một sự khám phá như thế có thể chiếm hầu như trọn cuộc đời của nhà văn, cùng lúc còn chính là chính tác phẩm của người đó - đặc biệt đối với một nhà văn theo kiểu Naipaul: một nhà văn vừa độc nhất vô nhị vừa cực kỳ đa dạng (diversely displaced), một nhà văn mà, không như những nhà văn Nga thế kỷ 19, chẳng hề có một truyền thống văn học phát triển nào cũng chẳng có một xứ sở rộng lớn đa đoan phức tạp nào để “nương tựa và lấy làm chất liệu”.

Để nhận ra những sắc thái gẫy vụn, rã rời của diện mạo chúng ta; để nhìn ra, bằng cách nào những mảnh vụn đó làm cho chúng ta trở thành chính mình; để thấu hiểu điều gì là cần thiết ở cái quá khứ đau đớn và khó chịu và chấp nhận nó như là một phần của hiện hữu chúng ta - một hiện hữu như một tiến trình không ngừng nghỉ, một tiến trình, thực sự mà nói, là của sự hồi tưởng, tái cấu tạo một cái tôi cá thể nằm dưới đáy sâu lịch sử, đó là điều phần lớn tác phẩm của Naipaul say mê dấn mãi vào. Người kể chuyện của nhà văn Pháp Proust, trong Đi tìm thời gian đã mất, định nghĩa cũng một sợi dây nối kết cốt tử như vậy giữa hồi ức, tự-biết-mình và nỗ lực văn chương, khi anh ta nói rằng sáng tạo ra một nghệ phẩm cũng đồng nghĩa với khám phá ra cuộc đời thực của chúng ta, cái tôi thực của chúng ta, và, “chúng ta chẳng hề tự do, theo nghĩa chúng ta không thể lựa chọn bằng cách nào chúng ta sẽ tự do trừ phi điều đó đã có sẵn từ trước; và do vậy, bởi điều đó [tự do] vừa thiết yếu vừa ẩn trốn ở đâu đâu, chúng ta phải làm việc cần làm nếu đó là luật của tự nhiên, nghĩa là khám phá ra nó (We are by no means free, that we do not choose how we shall make it but that it pre-exists and therefore we are obliged, since it is both necessary and hidden, to do what we should have to do if it were a law of nature, that is to say to discover it).”

Nguyễn Quốc Trụ dịch từ tiếng Anh
eVăn hiệu đính

Nguồn: Bài giới thiệu tập tiểu luận Literary Occasions của V.S. Naipaul, NXB Vintage, Canada, 2003.


Chú thích:
[1]
Heart of Darkness, tác phẩm nổi tiếng của Joseph Conrad - eVăn.

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z