|
Annie Saumont và những câu chuyện đời thường
Annie Saumont sinh năm 1927 tại Cherbourg (Pháp). Bà đã dịch rất thành công nhiều tác phẩm của những nhà văn Anglo - Saxon như John Fowler, Michael Taylor, Simon Burt và Michael Dorris. Bà cũng từng viết tiểu thuyết. Nhưng có thể nói truyện ngắn mới là thể loại thích hợp nhất, cho phép bà bộc lộ hết tài năng và tính nhạy cảm của mình.
Trước hết phải nói bà là một cây viết khỏe. Kể từ cuốn tiểu thuyết đầu tay Chơi kèn hác-mô-ni-ca xuất bản năm 1969 đến nay, bà đã cho ra đời bốn cuốn tiểu thuyết khác và gần hai chục tập truyện ngắn trong đó rất nhiều tập được giải thưởng như: Đôi khi trong nghi lễ xã giao (Quelquefois dans les cérémonies), NXB Gallimard, 1981 - Giải Goncourt truyện ngắn năm 1981; Trái đất là của chúng ta (La terre est à nous), NXB Ramsay, 1987 - Giải Truyện ngắn thành phố Mans; Tôi không phải là chiếc xe cam-nhông (Je ne suis pas un camion), NXB Seghers, 1989 - Giải thưởng lớn của Hội nhà văn; Họ đây rồi hạnh phúc biết bao (Les voilà quel bonheur), NXB Julliard, 1993 - Giải Phục hưng Truyện ngắn 1994. Năm 1991, bà nhận giải Nova cho toàn bộ thành tựu các tập truyện ngắn của mình. Điều đáng nói nữa là, trong bối cảnh độc giả Pháp rất bàng quan với truyện ngắn của các tác giả trong nước, rất nhiều tập truyện của bà đã được tái bản (Hay là ta giết chúng?; Trái đất là của chúng ta; Tôi, bọn trẻ, tôi không thích lắm; Cái gì đó trong cuộc sống; Họ đây rồi hạnh phúc biết bao; Sau đó; Chúng ta hãy đùm bọc nhau), thậm chí có cuốn được tái bản tới lần thứ hai (Tôi không phải là chiếc xe cam nhông). Các tập truyện của bà đều đặn nối tiếp nhau ra đời, rồi tái bản… Và cùng với chúng là các giải thưởng danh giá. Tất cả những điều này giải thích vì sao Annie Saumont được giới văn sĩ và phê bình Pháp tôn là cây viết truyện ngắn bậc thầy hiện nay. Bên cạnh biệt tài nắm bắt và diễn tả các thân phận con người thông qua một thời điểm mang tính biểu lộ, Annie Saumont còn có một giọng văn rất riêng, độc nhất vô nhị, một cách viết không thể bắt chước, một văn phong hiện đại và vô cùng tự nhiên. Như chúng ta đã thấy, tác phẩm của Annie Saumont rất nhiều. Nhưng bài viết này sẽ chỉ giới thiệu với độc giả một trong những tập truyện ngắn của bà có tựa đề Tôi không phải là chiếc xe cam-nhông. Có thể nói đây là tác phẩm tiêu biểu của Annie Saumont, không chỉ vì nó đã mang về cho tác giả Giải thưởng lớn của Hội Nhà văn Pháp, cũng không chỉ vì nó đã từng được dịch ra tiếng Anh năm 1994 với tiêu đề I’m no Truck, và đã được tái bản đến hai lần tại các nhà xuất bản danh tiếng của Pháp là Julliard (năm 1996) và Pocket (năm 2000), mà còn là vì nó mang đậm dấu ấn cả về nhân sinh quan, thế giới quan, lẫn cách viết rất đặc trưng của bà.
Người ta thường gọi các truyện ngắn của Annie Saumont là "chuyện đời thường", bởi chúng luôn lấy nguồn cảm hứng từ chính cái "cuộc sống mà mọi người đang sống". Tuy nhiên, với quan niệm rằng "những người sung sướng thì chẳng có chuyện gì để kể", tác giả chỉ quan tâm đến những cái bất thường trong cuộc sống bình thường ấy. Truyện ngắn của bà vì thế không có chỗ cho những đứa trẻ đáng yêu và được chiều chuộng, cho những cặp vợ chồng hạnh phúc, những doanh nhân hay những nhà văn thành đạt. Thế giới truyện ngắn của bà là thế giới của những kẻ cô đơn, bất hạnh: hoặc bị dị tật bẩm sinh, hoặc bị cuộc sống làm tổn thương. Họ là những con người rất đỗi bình thường, đôi khi "dưới mức bình thường": một người nhập cư thất nghiệp, một đứa trẻ bị bỏ rơi, một người mới ra tù, một cậu bé mắc chứng kinh giật, một thanh niên bị bệnh tâm thần,… Mỗi truyện ngắn là một mẩu đời được lẩy ra từ dòng đời đang tuôn chảy. Đằng sau những mẩu đời ấy, người ta thấy hình ảnh của cả một xã hội hiện đại và sự mong manh của thân phận con người.
Các nhân vật trong tập truyện Tôi không phải là chiếc xe cam-nhông là những người mà mỗi chúng ta có thể đã từng gặp: một khách du lịch nước ngoài, một phụ nữ bị người tình bỏ rơi, một người buôn bán nhỏ, một đứa trẻ đi nghỉ hè ở bãi biển với ông bà, một người mẹ già có đứa con trai độc nhất, một cặp vợ chồng diễn viên đang diễn tập… Cái làm nên sự đặc biệt của các câu chuyện về họ là chúng được xây dựng vào những thời điểm đặc biệt, những thời điểm mà qua đó hoặc bản chất của họ được hé lộ, hoặc số phận của họ bị đảo lộn một cách vô phương cứu vãn.
Nhân vật kiến trúc sư trong Những bức tường sáng hôm đó phải trình bày đồ án của mình trước Hội đồng Xây dựng Công trình công cộng Thành phố. Anh đang xuống cầu thang thì bà già hàng xóm tầng ba gọi lại nhờ thay giúp chiếc bóng đèn chùm. Xong việc, anh vội đi. Đến chỗ để xe anh mới nhớ ra là đă để quên chùm chìa khóa trong nhà bà hàng xóm. Khi anh quay lại, thấy cửa vẫn hé mở, anh nghĩ bà già đang bận gì đó trong bếp nên chỉ nói to thông báo cho bà là anh quay lại để lấy chìa khóa rồi đi ra. Đúng lúc ấy thì người đưa thư tới để trao cho bà già cuốn séc và phát hiện bà đã bị giết. Người đưa thư gọi điện cho cảnh sát. Vậy là anh bị bắt vì bị nghi là tội phạm. Không thể giải thích được sự vô tội của mình, anh trở nên quẫn trí và nghĩ đến việc tự tử.
N. trong truyện ngắn Bức chạm sau ban thờ đang sống hạnh phúc với người tình của mình là Stéphane. Stéphane đi công cán, N. có thời gian để thăm thú nhà thờ trong vùng. N. đến nhà thờ đúng vào lúc cô hướng dẫn viên tóc vàng đang giới thiệu với đoàn khách du lịch nước ngoài về bức tranh ba-rốc sau ban thờ. Thán phục sự hiểu biết của cô hướng dẫn viên, N. làm quen rồi mời cô về nhà mình chơi. Stéphane trở về sớm hơn dự định. Họ cùng ăn trưa với nhau và sau bữa ăn, N., với tư cách chủ nhà, nhận việc dọn dẹp bát đĩa để Stéphane đưa người bạn mới tóc vàng thăm cảnh làng quê. Và thế là tất cả bị đảo lộn: Stéphane bỏ N. để sống với cô gái tóc vàng.
Anh chàng khách du lịch đồng tính người Anh trong Anh có nói tiếng Pháp không? được một người Pháp cho quá giang đến Lyon. Trên đường đi anh ta thấy anh tài xế này cứ mỗi khi trông thấy một cô gái vẫy xe đi nhờ là lại nổi khùng, nên tưởng đã gặp được bạn tình. Chỉ khi tình cờ phát hiện bộ đồ lót phụ nữ màu đỏ trong túi sắc du lịch của anh tài xế, anh ta mới vỡ lẽ rằng, trong một lần cho một cô gái đi nhờ, xe của anh tài xế không may bị một xe khác đâm phải và cô gái chết; anh vô cùng day dứt nên cứ mỗi lần trông thấy các cô gái xin đi nhờ xe là anh lại nhớ về kỷ niệm buồn ấy và cảm thấy khó chịu.
Truyện ngắn của Annie Saumont là như vậy: luôn được xây dựng bằng những tình huống xảy ra bất ngờ làm đảo lộn cuộc sống vốn yên bình của nhân vật. Thông qua những tình huống bất thường xẩy ra trong cuộc sống thường nhật, những bức xúc xã hội được tác giả đề cập một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc. Trong Tôi không phải là chiếc xe cam-nhông, độc giả dễ dàng nhận ra những gì con người đương đại đang phải đối mặt: nạn thất nghiệp (Tôi biết mình không phải là chiếc xe cam-nhông), hậu quả chiến tranh (Bài chính tả, Tin vắn, Tiếng kêu), sự mong manh của quan hệ vợ chồng ( Buổi diễn tập, Bức chạm sau ban thờ), những bất đồng trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái (Vậy ai là người đã ném muối vào nước biển?, Tìm một thanh niên đẹp trai, Con hãy nhớ lại đi), cùng rất nhiều thông điệp về sự bấp bênh của số phận con người (Những bức tường, Một khi rượu đã mở, Cú sét). Cũng như trong hầu hết các tập truyện khác của tác giả này, các nhân vật trong Tôi không phải là chiếc xe cam-nhông là những diễn viên bất đắc dĩ trên sân khấu cuộc đời. Số phận của họ làm ta liên tưởng đến sự nhỏ nhoi của con người trước những trớ trêu của tạo hóa. Và dù không ai nói ra, nhưng độc giả nào cũng sẽ có cảm nghĩ là, biết đâu được, một ngày nào đó, một trong những vai diễn ấy có thể rơi vào chính mình.
Ngoài khả năng quan sát cuộc sống tinh tế và nhất là khả năng luôn nắm bắt được các tình huống đắt, Annie Saumont còn có biệt tài thể hiện những tình huống này một cách tự nhiên, sinh động. Quả vậy, từ những câu chuyện tưởng như rất đơn giản, đôi khi còn có vẻ rất "tầm thường", bà luôn tạo ra được những truyện ngắn kiểu mẫu. Thông qua những đoạn độc thoại nội tâm "ngây ngô", qua giọng kể bả lả của một người dẫn chuyện, qua những đoạn đối thoại rất thô, đậm chất ngôn ngữ nói, những vấn đề đặt ra trong các truyện ngắn của bà trở thành hiển nhiên và tiến triển của các câu chuyện trở nên tất yếu, như không thể nào khác được. Annie Saumont đã tạo ra được một "giọng nói của thời đại" bằng cách sử dụng nhiều thủ pháp khác nhau như vay mượn ngôn ngữ nói, phá vỡ các chuẩn mực liên quan đến dấu ngắt và dấu chấm câu, không sử dụng lời dẫn trước những lời thoại trực tiếp… Các câu văn cũng vô cùng linh hoạt tùy theo mục đích diễn tả cảm xúc nhân vật: khi rất dài, khi rất ngắn, có khi được rút gọn vào chỉ một từ. Ngoài ra, Annie Saumont còn rất giỏi sử dụng ngôn ngữ đặc trưng để khắc họa và cá thể hóa nhân vật. Trong truyện của bà, chỉ qua cách nói và từ vựng mà nhân vật sử dụng, độc giả có thể nhận ra nghề nghiệp, tầng lớp xuất thân và tính cách của họ. Tất cả tạo nên một nét rất riêng trong văn phong của Annie Saumont.
Nói đến văn phong Annie Saumont, người ta không thể không nói đến sự đa dạng trong kết cấu truyện của bà. Có truyện được xây dựng theo trình tự lô-gic truyền thống, có truyện lại dựa trên sự lắp ráp các đoạn văn không theo trình tự thời gian và giữa chúng không có sự chuyển tiếp nào cả. Nhưng cấu trúc đặc biệt nhất là sự lồng ghép hai câu chuyện trong cùng một truyện ngắn. Đó là thủ thuật đan xen các sự kiện của hai câu chuyện khác nhau nhưng lại có mối quan hệ nhất định: hoặc có chung một chủ đề, hoặc liên quan đến cùng một nhân vật. Những bức tường là một truyện ngắn có cấu trúc như vậy. Truyện ngắn này gồm hai câu chuyện nói về ý định tự tử của một giáo sư xã hội học và của một kiến trúc sư. Họ cùng muốn tìm đến cái chết do không thể giải toả những bức xúc cá nhân. Nếu gọi câu chuyện liên quan đến giáo sư xã hội học (gồm sáu đoạn) là A, gọi câu chuyện liên quan đến kiến trúc sư (gồm năm đoạn) là B, người ta có thể biểu hiện kết cấu đan xen của truyện ngắn này như sau: A1 > B1 > A2 > B2 > A3 > B3 > A4 > B4 > A5 > B5 > A6. Trước những truyện ngắn có kết cấu lồng ghép như vậy, độc giả thường phải hết sức tập trung để có thể trước hết phân biệt được hai câu chuyện, và sau đó, để hiểu được nội dung của chúng.
Hai câu chuyện trong Tiếng kêu liên quan đến cùng một nhân vật. Truyện ngắn này gồm mười bốn đoạn, được phân biệt bằng các dấu sao, kể về hai sự kiện, một vừa mới xảy ra, một xẩy ra đã lâu trong quá khứ. Các đoạn liên quan đến sự kiện vừa xảy ra được kể ở thì quá khứ, trong khi đó những đoạn liên quan đến sự kiện xẩy ra rất lâu trong qua khứ lại được kể ở thì hiện tại. Chúng đan xen lẫn nhau, và giữa chúng là những đoạn tả cảnh, phi thời gian. Kết cấu truyện ngắn này làm ta liên tưởng đến trò chơi xếp hình vì nó đòi hỏi ta phải hết sức chú ý và kiên nhẫn. Khi ta sắp xếp được các đoạn văn theo trình tự và hiểu nội dung câu chuyện thì cũng là lúc ta cảm nhận được hiệu quả tuyệt vời của bố cục và cách dùng các thì trong truyện. Thực vậy, liệu còn có cách nào khác hay hơn để kể một câu chuyện giản đơn về tình tiết nhưng lại vô cùng sâu sắc về ý nghĩa này: Nhân vật chính trong truyện đã từng bị bắt phục vụ tại một trại tập trung của phát xít Đức. Nhiệm vụ của anh là chuẩn bị cho các tù nhân Do thái trước khi dẫn họ vào lò thiêu. Trong số các tù nhân đó có cả người yêu anh. May mắn trốn thoát khỏi trại tập trung, anh sống trong day dứt, luôn trách mình đã không làm gì để cứu người yêu. Để khuây khỏa, anh đi leo núi. Lần đó, anh bị ngã và bị thương, nhưng anh đã không kêu cứu (vị trí anh ngã rất gần trại của những người leo núi Đức), mà nằm chờ chết để tự trừng phạt về tội lỗi của mình. Annie Saumont tỏ ra rất tâm đắc với kết cấu đan xen lồng ghép này. Phải chăng đây cũng là một cách để bà chuyển tải quan niệm của mình, rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng đẹp, cũng suôn sẻ, mà ngược lại, nó luôn phức tạp và đầy bất trắc?
Truyện ngắn của Annie Saumont không chỉ chứng tỏ khả năng quan sát và cảm nhận cuộc sống rất tuyệt vời của bà, mà còn cho thấy một văn phong không dễ gì bắt chước của một cây bút bậc thầy. Khi Tôi không phải là chiếc xe cam-nhông ra đời, năm 1989, có nhà phê bình đã gọi đó là "một kỳ quan thu nhỏ của xúc cảm, của tính chân thực, trí tưởng tượng và năng lực cảm nhận" (Giới thiệu sách, tháng 9/1989). Mười sáu truyện ngắn trong tập truyện, với mười sáu cách thể hiện khác nhau, tạo thành một bức tranh ghép đa màu, giới thiệu nhiều mẩu đời khác nhau nhưng có chung một thông điệp, đó là sự nhỏ nhoi của thân phận con người và sự cần thiết phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa đồng loại. Chính điều này làm cho tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc.
Do cách sử dụng ngôn ngữ và kết cấu đặc biệt của chúng, truyện ngắn của Annie Saumont tuy ngắn gọn nhưng không dễ đọc. Độc giả thường khó có thể nắm bắt một cốt truyện ngay sau lần đọc đầu tiên. Nhưng nhà văn luôn biết cách làm cho độc giả không cưỡng được ý muốn đọc lại tác phẩm của mình. Và bao giờ sự kiên nhẫn của họ cũng được đền bù xứng đáng: truyện ngắn Annie Saumont luôn mang đến cho họ những phát hiện thú vị cả về nội dung, ý nghĩa và nghệ thuật biểu đạt. Viết làm sao để độc giả không chỉ chú ý mà còn phải thực sự tham gia khám phá truyện ngắn của mình, đó là mong muốn của rất nhiều nhà văn đương đại. Nhưng liệu mấy ai đã có thể làm được điều này như Annie Saumont?
Hà nội, tháng 7/2004
© eVăn 2004
Nhưng mà ai đã bỏ chỗ muối này xuống biển? (truyện ngắn của Annie Saumont)
|