Phê bình

Thứ hai, 31/05/2004, 09:45
 

Nguyễn Gia Thiều - người đối thoại với bóng [2/2]

Đỗ Lai Thúy

Cái bóng người cung nữ đa dạng, nhiều vẻ. Trước khi vào cung, cái nụ hoa chưa mỉm miệng cười ấy còn đầy vẻ ngây thơ, trong trắng đẹp như gương, sáng như gương, mà cũng khêu gợi đa tình:

Bóng gương lấp ló trong mành
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa

Trước ngưỡng cửa cuộc đời, chưa hiểu thế nào là cuộc đời, nàng còn đầy tự tin vào tài sắc của mình, con thị tài. Khi được tuyển vào cung thì cái lý tưởng đó được hiện thực hoá. Nàng có sự đắc ý “Trên chín bệ mặt trời gang tấc”. Cái bóng của nàng trở nên sống động, linh họat, dấn mình vào hoan lạc.

Cái đêm hôm ấy đêm gì
Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng
Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ
Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu
Cành xuân hoa chúm chím chào
Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai...

Khi ngọn lửa trong lòng nhà vua nguội lạnh, ngọn lửa trong lòng nàng cũng hiu hắt, thì cái bóng của nàng trở nên ủ rũ, mờ nhạt, nhập nhòe về hình khối, đơn chiếc:

Trong cung quế âm thầm chiếc bóng
Đêm năm canh trông ngóng lần lần.

Rồi ngọn lửa trong lòng đã tắt, hoặc tưởng chừng như đã tắt, người cung nữ cũng hết sức sống, cái bóng như tự tách ra khỏi mình và họat động độc lập. Nhưng không có hình nó hoàn toàn vật vờ và phải dựa vào vách mà di động:

Đêm năm canh lần nương vách quế

Con người, như vậy, đã trở nên mù loà trước số phận. Theo quan niệm truyền thống, bóng là hồn của con người, phần tinh tuý, vật chất mịn, phần tồn tại vĩnh viễn của con người sau khi phần vật chất thô, thể xác tan rữa. Bởi vậy mới có tục hầu bóng. Bóng là linh hồn của các ngài nhập vào xác ông đồng bà cốt. Hồn và xác, hình với bóng, bao giờ cũng phải đi đôi với nhau, nếu tách rời nhau thì sẽ trở thành tai họa. Qua các giấc mơ, người ta thấy hồn xuất xác và đi lang thang trong thế giới như một thực thể độc lập, nhưng rồi bao giờ cũng quay trở về nhập xác. Nếu trong lúc hồn còn đang đi bát ngát mà có người vô tình hay cố ý bôi nhọ mặt người nằm mơ đến khi hồn về thấy lạ, không nhập xác mình nữa thì người mơ sẽ chết. Cho nên con người phải giữ lấy cái bóng của mình. Thuở nhỏ, tôi thường được người lớn dặn là không để ai dẫm chân lên bóng của mình. Khi băm bèo, thái khoai không được ngồi xấp bóng kẻo băm chặt vào bóng. Người thiếu phụ Nam Xương trong cô đơn đã chỉ bóng mình và bảo con rằng đấy là cha nó. Nàng đã vô tình tạo ra cho chiếc bóng một sự tồn tại độc lập để đến khi người cha trở về hiểu lầm, và nàng đã phải trả giá bằng cái chết của mình. Trong Cung oán ngâm khúc, khi cái bóng trở nên độc lập với hình, thì thế giới thực đã trở thành thế giới của bóng, một thế giới ảo:

Tuồng ảo hoá đã bầy ra đấy

thậm chí:

- Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư


bởi vậy, cuộc đời chỉ là giấc mộng:


- Kìa thế cục đang in giấc mộng


đời người vô nghĩa :


Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì


Và con người:


- Cái quay búng sẵn trên trời

  Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm - Nghĩ thân phù thế mà đau

 Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê


Thế giới ảo của Cung oán ngâm khúc phản ánh quan niệm hư vô về cuộc đời của Nguyễn Gia Thiều. Như trên đã nói, quan niệm này xuất phát từ triết lý Phật giáo của thời đại ông. Đây là giai đoạn loạn lạc. Khổng giáo không đủ sức toả chiết xã hội. Phật giáo hưng thịnh trở lại. Nhưng, ứng xử của tầng lớp trí thức với Phật giáo của giai đoạn văn hoá đình làng này khác xa với thời Lý - Trần phát triển thiền học. Những nhà nghiên cứu Phật giáo đều là của những thiền sư, những cư sĩ. Họ chủ động đến với Phật giáo với tư cách là một tôn giáo để tìm sự giải thoát cho con người phổ quát ở trong họ. Còn các trí thức thời Lê - Trịnh, do sự hoang mang trước thế sự tìm đến Phật giáo như một triết lý sống, một thứ triết lý để tồn tại trước và trên hết cho chính bản thân mình. Chỉ có coi cuộc đời là hư ảo, người trí thức Lê - Trịnh mới đủ sức vượt qua nhưng bi kịch mà thời đại đã soạn sẵn ra cho họ. Nguyễn Gia Thiều, hơn ai hết, bằng thiên tính, tri thức và trải nghiệm đã sớm giác ngộ điều đó. Cuộc đời này rút cục với ông, chỉ là một tấn “Tuồng ảo hoá”.

Một Cái nhìn thế giới {Vision du monde} như vậy của Nguyễn Gia Thiều đã tạo ra một vũ trụ nghệ thuật độc đáo cho Cung oán ngâm khúc. Trong tác phẩm này thế giới hình và thế giới bóng, thế giới thực và thế giới ảo lồng vào nhau, soi chiếu nhau tạo cho thi phẩm những cấu trúc song song và ứng đối. Có lẽ, tài năng kiến trúc của Nguyễn Gia Thiều được thể hiện ở đây. Cấu trúc đối ứng xuyên suốt tác phẩm, cả ở tư tưởng lẫn nghệ thuật, cả ở diện vĩ mô đến diện vi mô.


Trước hết, Cung oán ngâm khúc được kiến tạo thành hai phần đối nhau. Phần đầu, sau khi giới thiệu nhân vật xong, dường như tác giả muốn đứng ra trình bày quan niệm của mình về cuộc đời và thân phận con người nói chung: đời là phù sinh, phù thế, con người là bào ảnh, là bèo bọt chịu sự chi phối nghiệt ngã của con quay số mệnh, tóm lại là hư vô: Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì... Như trong những vở bi kịch cổ đại Hy Lạp, đây là phần đầu, báo trước số phận nhân vật. Có điều, ở trong tác phẩm trữ tình này, Nguyễn Gia Thiều đã đẩy nó lên, cả về chất lượng lẫn số lượng, thành một thiên triết lý phổ quát về cuộc đời và tạo ra một đối lập “chung - riêng”, “phổ quát - cá thể” với phần sau, phần diễn giải số phận con người cụ thể: người cung nữ. Con người cụ thể vừa cưỡng lại cái số phận người phổ quát vừa phục tùng nó. Hay đúng hơn, hành trình nhân thế của nó là đi từ chống đối đến phục tùng, và phục tùng rồi mà vẫn không nguôi chống đối. Kết cấu của Cung oán ngâm khúc là sự mô phỏng nghệ thuật cái mâu thuẫn này của người cung nữ nói riêng và con người nói chung.

Một đối ứng khác trong Cung oán ngâm khúc là thi ca và triết học. Có thể nói, tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều là sự chụm ngọn của hai đỉnh cao: thi ca và triết lý. Triết học và thi ca có với nhau nhiều điểm chung, thậm chí có thể chuyển hoá vào nhau. Nhưng triết học thì chuyển động dưới dấu hiệu của lý trí. Nó tiết ra tư tưởng và thể hiện cái lý tưởng của mình bằng hệ thống các quan hệ logic. Còn thi ca, bằng bản chất thiên nhiên của mình, là một sự đỏng đảnh của tình cảm và tưởng tượng với rất nhiều biến thái. Đó là sự khác nhau giữa thi ca và triết học. Ở thơ thiền Lý - Trần hoặc thơ nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì thơ và triết học còn là những thực thể riêng biệt chưa “hoà mạng” vào nhau. Còn ở các nhà thơ khác cùng thời đại lớn với Nguyễn Gia Thiều thì thơ nghiêng về tình cảm. Chỉ đến Cung oán ngâm khúc thì thơ Việt Nam mới từ giai đoạn cảm xúc chuyển sang giai đoạn tư tưởng. Hay nói khác, thơ và triết gặp nhau, chuyển hoá vào nhau.

Có lẽ, trước cảnh dâu bể của cuộc đời, con người thời Lê - Trịnh, sau bao trải nghiệm khổ đau, đã chìm mình vào tư tưởng, một thứ tư tưởng xuất phát từ tình cảm và là kết tinh của tình cảm. Nghĩa là, sự đau khổ vốn là một hoạt chất không định hình, không định lượng đã rắn lại thành một trạng thái cố định vượt ngoài không gian và thời gian.

Một khi đau khổ đã trở thành định luật, thành nguyên lý thì đó là triết học. Nhưng triết học của Nguyễn Gia Thiều bắt nguồn từ khổ đau, để rồi lại trở về với khổ đau, làm quang đại nó lên. Con đường của thơ triết: ra đi từ tình cảm nó lại trở về với tình cảm.

Truyện Kiều của Nguyễn Du, tiếng kêu đứt ruột ấy, cũng nhiều khổ đau, nhiều triết lý, nhưng kém sâu sắc và không não nề như Cung oán ngâm khúc. Có thể ở đấy, trong Truyện Kiều, không có những cấu trúc song song ứng đối, không có sự đối lập và thống nhất giữa cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ trong triết lý và trong tâm lý con người. Truyện Kiều có một nghìn tâm trạng, nhưng đều là những tâm trạng hữu thức, dù đôi khi bị đẩy đến cùng cực, còn ở Cung oán ngâm khúc thì phần nhiều con người hữu thức bị dồn đuổi sang tiềm thức và vô thức, mà ở hai cõi này thì tâm trạng thường lưỡng phân và chuyển hoá: vui sướng - đau khổ, hy vọng - thất vọng... cùng tồn tại và cùng chuyển hoá trong một thời khắc. Nó trở thành những quái trạng:


- Muốn đem ca tiếu giải phiền

  Cười lên tiếng khóc, hát lên giọng sầu

- Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm

  Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon

- Tiếng thúy điện cười già ra gắt

  Màu quyền môn thắm rất nên phai.


Cuối cùng, ảo giác xuất hiện:


Khi trận gió lung lay cành biếc

Nghe rì rầm tiếng mách ngoài xa

Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra

Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn


Những tâm trạng bị đẩy dồn đến cùng cực như vậy thường mang tính khái quát cao và trở thành những triết lý. Đau khổ, nhưng vẫn biết triết lý về sự đau khổ - đó là sự tự ý thức, người đau khổ tự phân thân quan sát lại mình... Một đặc tính chỉ có ở con người. Một đặc tính người phổ quát. Đó là tính nhân loại của Cung oán ngâm khúc.


Đối ngẫu nữa trong Cung oán ngâm khúc là ngôn ngữ của thi phẩm. Ở đây, ngôn từ có một sự phân cực rõ ràng: một bên là những từ Hán Việt, trúc trắc, trang trọng đến khó hiểu {“Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ, Quán thu phong đứng rũ tà huy, Vườn tây uyển khúc trùng thanh dạ, Gái Lân xuân điệu ngả Đình hoa...}; bên kia là những từ thuần Việt, dân dã, cá thể hoá đến cao độ, như rấm {“Thâm khuê còn rấm mùi hương khuynh thành”}, câu chõ, dử {“Đoá lê ngon mắt cửu trùng”}, đành hanh quá ngán, gót rỗ, rám mùi dâu... Sự đối lập này không tạo ra một nghịch âm, trái lại nó phù hợp với những cấu trúc đối ngẫu khác của thi phẩm, như bố cục song quan, thi ca và triết học, tâm trạng lưỡng phân của nhân vật, thống khổ và khoái lạc, tài và mệnh, tự do và số kiếp. Hơn nữa, sự đối lập ngôn từ ấy cuối cùng vẫn có một sự thống nhất. Đó là, dù dân gian hay bác học, ngôn ngữ Nguyễn Gia Thiều đều tha thiết và thấm đượm vẻ thiêng liêng của triết lý.


Cung oán ngâm khúc là hành trình đi đến một nhận thức về hư vô. Hư vô là một phạm trù triết học chi phối nhiều đến đời sống nhân loại. Con người phải suy tư về nó, và cần có một ứng xử đúng đắn với nó. Hư vô, từ xưa đến nay, được các nhà triết học gọi bằng những tên khác nhau. Đó là Đạo của Lão tử, Niết Bàn của Thích ca mầu ni, ý niệm tuyệt đối của Platon và Hégel ... Đối diện với hư vô, con người có hai thái độ: hoặc thấy cuộc đời là vô nghĩa, cát bụi lại trở về với cát bụi, Trăm năm còn có gì đâu / Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì, nên buông xuôi, lánh đời, sa vào ăn chơi, hưởng lạc, hoặc biết được cuộc đời là hư vô nhưng vẫn tham dự hết mình vào cuộc sống. Biết sống với những ở đâylúc này. Với những người biết nhập thế một cách hư vô và hư vô một cách nhập thế như vậy, anh ta sẽ bớt ham hố, bớt ích kỷ, không cần đạt mục đích bằng mọi giá, bởi vì, xét cho cùng, mọi thứ (kể cả anh ta nữa) đều là hư vô, nhưng cũng vì tất cả là hư vô nên anh ta dám sống hết mình với một thái độ thanh thản. Hư vô không làm cho cuộc sống mất ý nghĩa, mà trái lại, mang đến cho cuộc đời một ý nghĩa mới: cuộc sống được thanh lọc sẽ trở nên lành mạnh hơn, trong trẻo hơn.


Nguyễn Gia Thiều, tôi nghĩ là người đã nhìn thấy hư vô, nhưng không vì thế mà không nhập cuộc. Có thế, ông mới viết Cung oán ngâm khúc. Có thế, người cung nữ trong ông mới không nguôi hy vọng vào cuộc đời. Bao nhiêu lần ngọn lửa trong lòng nàng tắt đi, thì cũng bấy nhiêu lần nó lại đựơc thắp lên. Và Nguyễn Gia Thiều, có thể nói, là người đốt đèn, là người đi thắp lửa. Tuy biết rằng, cái ngọn lửa vừa được thắp lên ấy sẽ bị lụi tàn, ông vẫn không nản. Ông như con chim Tinh Vệ ngậm đá lấp biển, như chàng Sisyphe lăn tảng đá lên dốc. Có lẽ, đó là số phận của nhà triết học, số kiếp của người nghệ sĩ?


Sau cùng có thể nói Cung oán ngâm khúc cũng là một chiếc bóng của Nguyễn Gia Thiều. Có điều đây là một chiếc bóng đặc biệt, có khả năng tồn tại sau khi hình đã tan biến vào hư vô. Và nó tồn tại lâu dài với nhân loại, chừng nào mà ở mỗi người vẫn còn giữ trong tâm hồn mình một nguồn sáng: ngọn lửa. Đó là lý do như Tản Đà nói:


Trăm năm “hình lánh cõi trần

Nghìn năm “bónggiữ tinh thần không phai [4]


5/2004 

(c) eVăn 2004

Các bài viết khác của Đỗ Lai Thúy trên eVăn:
Phê bình văn học là gì?
Phân tâm học và phê bình văn học ở Việt Nam


___________________ 

Chú thích:


[3] Đọc Cung oán ngâm khúc, Lý Văn Phúc {1789 - 1849} viết: “Thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân” {trăm nghìn lần điêu luyện, từng lời từng câu đọc lên nghe đến ghê cả người


[4] Nguyên văn trong thơ Tản Đà, bài Nói chuyện với ảnh: 


Trăm năm ta lánh cõi trần,

Nghìn năm mình giữ tình thần chớ phai.


Bố cục của Cung oán ngâm khúc có nhiều cách chia:

Ông Hà Như Chi trong Việt Nam Thi văn giảng luận:


Phần 1. Trước khi được kén vào cung

- Tài sắc người con gái trước khi được kén vào cung {câu1-44}

- Tư tưởng của nàng về cuộc đời khổ sở câu {45-116}.


Phần 2. Lúc được tuyển vào làm cung phi và được sủng ái { câu 117-192}


Phần 3. Khi chán bỏ

- Nỗi buồn bực khi bị vua chán bỏ {193-288},

- Chán nản, than thở nhưng lại lo lắng, ước mong {289-358}


Ông Thôn Thất Lương chia Cung oán ngâm khúc thành 8 đoạn, tướng ứng với 8 câu trong bài thơ Đường.


Ông Phạm Thế Ngũ lại chia thi phẩm theo kết câu một bài Đường Phú:


  1. Mở đầu Lung khởi {1-4}

  2. Biện nguyên {5-116}

  3.Thích thực và Phu diễn {117-328}

  4. Nghị luận { 329-352}

  5. Kết thúc {353-358}


Tất cả ba cách chia trên đều nhấn mạnh tính chất thơ trữ tình của Cung oán ngâm khúc ,chứ không phải là tính chất truyện kể.

Các bài khác:
 

Ichiyô - thiên tài của tuổi xuân vĩnh cửu

Đọc 'Gió lẻ' nhớ Jean Paul Sartre và Albert Camus

Bức họa phi lý và phản quang xã hội trong ‘Biên niên ký chim vặn dây cót’

'Người thầy' hay chuyện về chữ Người của một thầy giáo

Người duy nhất đóng được vai Lê Xuân Đố

Hay, dở khi các nhà văn viết về tình yêu

Những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết 'Nháp'

Những khuôn hình đặc tả Ấn Độ

'Hát thơ' hay là chuyện làm thơ để hát

Anchee Min và câu chuyện của những người đàn bà

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z