|
Một bài thơ Điện Biên của Nguyễn Tuân
Phạm Xuân Nguyên
Giăng liềm
Cát xuân cuốn lốc như năm nao
Bao la một giời chiến hào
Dài ngân trong gió Lào
Rụng cánh từng cánh hoa ban
Ngoài bến cỏ gianh lút đầu người
Nấc lên những hơi mìn gỡ sót
Vỡ hoang Cò Mỵ đánh gộc rừng
Âm âm động xích chiến xa hòa bình
Bãi xưa đèn hiệu thả dù
Đèn pha nay chạy máy cày đêm
Sân bay đất lật ngửa lên
Hầm pháo nặng thành hố phân xanh
Con chim bạt ngàn ngày xuân nọ
Trở về nở trứng giữa chân ruộng mạ
Khu trục gỉ cánh quạt chìm dần
Sóng lúa Hồng Cúm vồng ngọn cao
Nông trang khắc thâu
Mõ trâu
Đui đạn đồng
Lanh canh nhạc lạnh sương lồng giọt mơ
Hơi may ngọt nhờ nhờ
Đêm cỏ đầm đầm sữa vắt
Loang khắp cánh rừng Mường Theng
Trong nắng mai bừng lên
Như sôi hơi một nồi cơm khổng lồ
Chào reo lúa tẻ vụ đầu
Phía cầu Nậm Rốm
Có anh bộ đội yên tâm sản xuất
Thả nhẹ vào lòng sông chiều
Một chiếc liềm vàng
Nghiêng nghiêng giăng liềm
Vàng thiếp lên vàng
Trên lúa rỗ đồng Mường Thanh
Một mùa thu lao động hòa bình
Treo lên một giời xanh
Điện Biên chiều về nguyệt bạch
Kim tuyến thêu hình liềm vàng
Láng đi láng lại hào quang
Trên lúa đỏ nông trường
Ngợp trong bụi lửa
Bốn năm xưa Điện Biên
Giăng liềm gác lên nòng súng khói
Đất cũ rưng rưng chiều sa trường
Mênh mông tiếng lúa nông trang
Cánh đồng lịch sử
Biên tuyến xanh ngắt xanh
Lồ lộ chiếc liềm vàng.
Nguyễn Tuân
4/10/1958
Bài thơ xuất hiện lần đầu trong tập Sông Đà và được Nguyễn Tuân mở thêm một cái ngoặc dưới đầu đề: (Phác thảo một bài thơ). Thời điểm bài thơ phác thảo được ghi rõ cho thấy bối cảnh tạo nên cảm hứng của nhà văn.
Điện Biên bốn năm sau chiến thắng đã trở thành một nông trường lớn, nơi những người lính vừa rời cây súng đã cầm lấy cái cuốc cái cày để biến trận địa máu lửa ngày trước thành cánh đồng mùa màng hôm nay. Năm 1958 có một đợt đi thực tế lớn của các văn nghệ sĩ, và Điện Biên là một điểm đến chính của nhiều người cầm bút (hãy nhớ lại kết quả đợt đi này ở Nguyễn Huy Tưởng là tiểu thuyết Bốn năm sau, ở Nguyễn Khải là tập truyện Hãy đi xa hơn nữa). Các bài viết của Nguyễn Tuân trong tập Sông Đà cũng là kết quả của những chuyến đi sau ngày hòa bình đó, và Giăng liềm là chung một mạch cảm xúc ngợi ca sự hồi sinh và xây dựng cuộc sống mới của cả tập ký đầu hòa bình này của Nguyễn.
Nhưng thay vì viết một bài ký, Nguyễn lại làm một bài thơ.
Thực chất, tùy bút Nguyễn Tuân vốn đã rất thơ, rất nhiều chất thơ, có thể đọc như những bài thơ. Ông có cái nhìn, niềm rung cảm và giọng điệu của một thi sĩ (Đặng Tiến). Và trước quang cảnh Điện Biên bốn năm sau trận đánh lớn, cái thơ này trong Nguyễn đã thức dậy, đã đòi lên tiếng. Trở lại nơi chiến địa ngày nào bây giờ đang nhịp sống lao động dựng xây, cái đổ nát hôm qua đang được hàn gắn thay thế hôm nay, sự chết chóc được xóa đi bằng sự sống, cảm xúc con người đến đó nhìn, và thấy, và nghe, và nghĩ, là đi theo mạch tương phản, đối lập. Nguyễn Tuân ở đây cũng vậy, chưa khác.
Bãi xưa đèn hiệu thả dù <> Đèn pha nay chạy máy cày đêm
Hầm pháo nặng <> thành hố phân xanh
Con chim bạt ngàn ngày xuân nọ <> Trở về nở trứng giữa chân ruộng mạ
Khu trục gỉ cánh quạt chìm dần <> Sóng lúa Hồng Cúm vồng ngọn cao
Đui đạn đồng <> Mõ trâu
Bốn năm sau bãi chiến trường vẫn còn đó “một giời chiến hào”, “cỏ gianh lút đầu người”, mặt đất vẫn còn ngổn ngang sắt thép. Nhưng tất cả đang đổi khác. Tiếng mìn khi xưa chỉ còn là tiếng hấp hối “nấc lên”. Còn tiếng “âm âm động xích” hôm nay là của “chiến xa hòa bình”. Cách dùng chữ và đối lập chữ đã “đặc hiệu” Nguyễn Tuân. (Ngay ở đoạn trên nói Nguyễn chưa khác là về cảm xúc đối lập, tương phản, nhưng chữ dùng để thể hiện thì đã rõ là của Nguyễn). Và rồi tiếng mõ trâu làm bằng đui đạn đồng đã reo lên “lanh canh nhạc lạnh sương lồng giọt mơ”. Nguyễn đã từ nhìn, sang cảm, và mơ. Giấc mơ đời sống hòa bình khi thấy trong nắng mai lên khắp cánh đồng Mường Theng đầm đìa sương bốc “Như sôi hơi một nồi cơm khổng lồ”. Nhà thơ đã được nhờ nhà tùy bút mạnh về giác quan thanh sắc, hình ảnh hình khối ở bức tranh tả thực một vùng chiến trường sau chiến tranh ở đoạn đầu bài thơ. Cũng những cảnh này khi viết bằng văn xuôi, chẳng hạn hình ảnh “nồi cơm khổng lồ”, Nguyễn viết: “Khói núi bốc lên như khói nồi cơm vừa sôi. Cánh đồng lịch sử Mường Thanh hiền lành như một cái nồi đồng điếu khổng lồ đang sủi tăm nước chờ đón lấy gạo tẻ của nông trường những anh bộ đội trước đây đã chính tay mình giải phóng cho cánh đồng này”. (bài “Đường lên tây Tây Bắc”, mở đầu tập Sông Đà).
Nhưng Nguyễn thi sĩ đích thực là khi trên nền cảnh ngổn ngang bề bộn đó ông để xuất hiện một chiếc liềm vàng được anh bộ đội thả vào lòng sông chiều phía cầu Nậm Rốn. Mảnh trăng đầu tháng cong hình lưỡi liềm tỏa ánh lên đồng lúa tẻ vụ đầu đang chín lúc chiều tà tạo nên một cảnh sắc huy hoàng “vàng thiếp lên vàng”. Chiều càng xuống, ánh trăng càng tỏa hào quang trên lúa đỏ nông trường. Ánh hào quang trăng láng đi láng lại gợi hình dung một biển lúa dập dờn. Nhưng “lúa đỏ” là vì sao? Câu trước đó Nguyễn viết “lúa rỗ” là tả thực lúa trên đồng Mường Thanh chín chưa đều. Còn khi nâng ánh trăng lên thành ánh hào quang thì “lúa đỏ trên nông trường” là nghĩa tượng trưng, bao máu xương đổ xuống cho mùa vàng hôm nay. Đoạn cuối có một hồi ức về trăng trong chiến trận “Giăng liềm gác lên nòng súng khói” nhấn mạnh thêm ý này. Câu thơ dựng một hình tượng thực và ảo không kém “Đầu súng trăng treo” (Chính Hữu), mà lại có phần cụ thể và ác liệt hơn. Và lại vang lên một âm thanh, không phải một thứ tiếng kim loại nào như ở đầu bài, mà là “tiếng lúa”. Âm thanh này tỏa mênh mông, đó là tiếng sự sống đang về lại với con người.
"Giăng liềm" là hình ảnh đã quen thuộc trong ca dao. Nhưng Nguyễn Tuân đã cho nó hiện lên giữa trời Điện Biên soi cảnh Điện Biên trong hòa bình, biến nó thành chiếc liềm vàng của mùa gặt hái. Nguyễn dùng cách gọi dân gian là “giăng” để bình thường hóa lại cuộc sống sau chiến tranh, để nối mạch cuộc sống thanh bình từ bao lâu ước vọng bị chiến tranh cắt đứt nay lại trở về, để xóa đi vết tích của đau thương đổ nát. Cuối cùng trong mắt Nguyễn Tuân giăng liềm đã biến thành chiếc liềm vàng - biểu tượng của no ấm, hạnh phúc - trên bãi chiến trường xưa giờ bao la một màu xanh.
Cánh đồng lịch sử
Biên tuyến xanh ngắt xanh
Lồ lộ chiếc liềm vàng
Thực sự, “phác thảo một bài thơ” của Nguyễn Tuân đã là một bài thơ hoàn chỉnh. Nguyễn thi sĩ cũng độc đáo, riêng biệt như Nguyễn tùy bút vậy. Giăng liềm là một bài thơ được viết với một bút pháp hiện đại, mới mẻ từ cách xây dựng hình ảnh, dùng từ và cấu trúc. Vút lên trong trẻo từ mặt đất ngổn ngang Điện Biên bốn năm sau một mảnh giăng liềm, một chiếc liềm vàng còn lơ lửng đến hôm nay. Giăng liềm ấy là giăng Điện Biên - Nguyễn Tuân.
Hà Nội 15/3/2004
Văn Nghệ số 18+19 (1+8/5/2004)
|