Nghiên cứu

Thứ bảy, 07/02/2004, 15:45
 

Tâm hồn Nga (3) - Nước Nga

Berdiaev, Nikolai Aleksandrovich

Bản tính Nga đòi hỏi một Vị Chúa tạo dựng và soi sáng. Sự thiếu hụt tính cách nam tính và sự tôi luyện cá nhân, những điều được nhào nặn ở phương Tây qua giới hiệp sĩ - là nhược điểm nguy hiểm nhất của người Nga, dân tộc Nga và giới trí thức Nga.

Bản thân tình yêu của con người Nga với mảnh đất quê hương cũng mang một hình thức cản trở sự phát triển của tinh thần nam tính bản ngã. Nhân danh tình yêu ấy, nhân danh sự gắn bó với lòng mẹ, yếu tố hiệp sĩ bị chối bỏ ở nước Nga. Tinh thần Nga bị quấn chặt trong vỏ bọc bền chắc của bà mẹ dân tộc, nó chìm nghỉm trong xác thịt ấm áp và ướt át. Tâm hồn Nga, mà tất cả đều biết rõ, gắn chặt với hơi ấm và sự ướt át này; trong nó vẫn còn nhiều chất xác thịt và chưa đủ chất tinh thần. Nhưng máu và thịt không được hưởng sự vĩnh cửu, và chỉ nước Nga tinh thần mới có thể vĩnh cửu. Nước Nga tinh thần có thể được phát lộ chỉ bằng con đường hy sinh dũng cảm đời sống ấm áp sinh vật của xác thịt huyết thống tập thể. Bí mật của nước Nga chỉ có thể giải đáp bằng cách giải phóng nó khỏi sự nô lệ vào những bản năng tăm tối. Trong ngọn lửa thanh lọc của đám cháy thế giới nhiều thứ sẽ bị cháy trụi, những phục sức vật chất cũ nát của thế giới và con người sẽ cháy thành tro. Và khi đó sự phục sinh của nước Nga tới cuộc sống mới chỉ có thể gắn với những con đường dũng cảm, tích cực và sáng tạo của tinh thần, với sự mặc khải Chúa Ki tô trong mỗi con người và dân tộc, chứ không phải với bản năng giống nòi tự nhiên, vĩnh viễn quyến rũ và nô lệ. Đó là chiến thắng của ngọn lửa tinh thần trước sự ướt át và ấm áp của xác thịt tâm hồn. Ở nước Nga, do tính chất tôn giáo luôn luôn hướng tới cái tuyệt đối và cái kết thúc của nó, yếu tố con người không thể phát lộ dưới hình thức chủ nghĩa nhân văn, nghĩa là phi tôn giáo. Và cả ở phương Tây chủ nghĩa nhân văn cũng đã cạn kiệt sức lực, lỗi thời, đi đến cuộc khủng hoảng mà nhân loại phương Tây đang đau đớn kiếm tìm lối thóat. Nước Nga không thể bắt chước muộn mằn chủ nghĩa nhân văn phương Tây. Ở nước Nga sự mặc khải của con người chỉ có thể là mặc khải tôn giáo, chỉ có thể là sự phát lộ con người nội tâm, chứ không phải con người bề ngoài, chỉ ở bên trong Chúa Ki tô. Tinh thần tuyệt đối của nước Nga là như vậy, trong đó tất cả đều phải xuất phát từ nội tại, chứ không phải từ bên ngoài. Sứ mệnh của chủng tộc Slavơ là như vậy. Chỉ có thể tin vào điều đó, chứ không thể chứng minh được nó.

Nước Nga

Dostoievski là con người Nga và nhà văn Nga đến tận cùng sâu thẳm. Không thể hình dung nổi ông bên ngoài nước Nga. Qua ông có thể giải đoán được tâm hồn Nga. Và bản thân ông là một câu đố về bản tính Nga. Ông hoà trộn trong mình tất cả sự mâu thuẫn của bản tính ấy. Qua Dostoievski người phương Tây nhận biết được nước Nga. Nhưng Dostoievski không chỉ phản ánh cấu trúc của tâm hồn Nga và hiểu rõ nó, ông còn là người tuyên truyền có ý thức về tư tưởng Nga và ý thức dân tộc Nga. Và trong ông phản ánh tất cả sự trái nghịch và mọi bệnh tật của ý thức dân tộc chúng ta. Có thể phát hiện tính khiêm nhường Nga và tính tự phụ Nga, tính toàn nhân loại Nga và tính ngoại biệt dân tộc Nga trong Dostoievski, khi ông trở thành người truyền bá cho tư tưởng Nga. Trong những lời ca ngợi của ông về Puskin, khi Dostoievski kêu gọi nhân dân Nga: “Hãy nhẫn nhịn, hỡi con người kiêu hãnh”, thì tính nhẫn nhịn mà ông kêu gọi không phải là sự nhẫn nhịn thông thường. Ông coi nhân dân Nga là dân tộc khiêm nhường nhất thế giới. Nhưng ông cũng kiêu hãnh về sự khiêm nhường đó. Và những người Nga cũng thường kiêu hãnh về đức khiêm nhường đặc biệt của mình. Dostoievski coi dân tộc Nga là “dân tộc mang danh Chúa”, “dân tộc mang danh Chúa” duy nhất. Nhưng ý thức cứu thế độc tôn đó không thể được gọi là ý thức khiêm nhường. Trong nó hồi sinh cảm giác tự thân và ý thức tự ngã cổ xưa của dân tộc Do Thái. Thái độ của Dostoievski đối với châu Âu cũng lưỡng phân và mâu thuẫn như thế. Chúng ta sẽ thấy Dostoievski là nhà ái quốc thực sự của châu Âu, của các di tích và những thánh địa vĩ đại của nó, ông có những lời rất đỗi kinh ngạc về châu Âu mà không một người sùng phương Tây nào nói lên được. Trong thái độ của ông đối với châu Âu toát lên tính nhân loại của tinh thần Nga, khả năng của con người Nga trải nghiệm tất cả những gì vĩ đại xảy ra trên thế giới như với những điều thân thuộc của chính mình. Nhưng ông cũng phủ định việc các dân tộc châu Âu là các dân tộc Ki tô giáo, ông đã tuyên bản án tử hình cho châu Âu. Ông là một người sô-vanh chủ nghĩa. Và có nhiều điểm không công bằng trong các phán xét của ông về các dân tộc khác, ví dụ, về người Pháp, người Ba Lan và người Do Thái. Cảm giác tự thân và ý thức tự ngã của dân tộc Nga luôn luôn là như vậy, nó lúc thì phủ định thái quá tất cả những gì là Nga và thể hiện sự chối bỏ Tổ quốc và mảnh đất quê hương mình, lúc thì khẳng định hoàn toàn những gì mang tính Nga trong sự độc tôn và khi đó tất cả các dân tộc khác trên thế giới đã thuộc về các chủng tộc hạ đẳng. Trong ý thức dân tộc của chúng ta không bao giờ có mức độ, không bao giờ có sự tự tin bình tĩnh và sự kiên định không vướng bận những lo lắng và bất ổn tâm thần. Cả trong thiên tài vĩ đại nhất của chúng ta - Dostoievski - cũng không có sự kiên định đó, không có ý thức dân tộc chín muồi, nam nhi về mặt tinh thần, cũng toát lên căn bệnh của tinh thần dân tộc của chúng ta.

Kết cấu của tâm hồn Nga cũng khác một cách rất độc đáo với kết cấu tâm hồn người phương Tây. Trong phương Đông Nga phát lộ một thế giới rộng lớn, có thể đối trọng với toàn bộ thế giới phương Tây, với tất cả các dân tộc châu Âu. Và những người nhạy cảm ở phương Tây hiểu rất rõ điều đó. Họ bị hấp dẫn bởi câu đố về phương Đông Nga. Nước Nga là một bình nguyên vĩ đại với những khoảng không vô bờ bến. Trên mặt đất Nga không có những hình dạng được khắc hoạ sắc nét, không có các đường ranh giới. Trong kết cấu của đất đai Nga không có nhiều phức hợp đa dạng giữa núi đồi và thung lũng, không có giới hạn xác định hình dạng của từng khu vực. Địa hình tự nhiên Nga trải rộng theo đồng bằng, nó luôn trải dài đến bất tận. Và trong địa lý của đất đai Nga có sự tương hợp với kết cấu địa lý của tâm hồn Nga. Kết cấu đất đai, địa lý dân tộc luôn chỉ là biểu hiện tượng trưng cho kết cấu tâm hồn của dân tộc, chỉ là địa lý của tâm hồn. Mọi thứ bên ngoài luôn chỉ là biểu hiện của cái bên trong, chỉ là biểu tượng của tinh thần. Và tính bằng phẳng của đất đai Nga, tính vô ranh giới của nó, tính bất tận của các khoảng không, tính bột phát chưa định hình của nó chỉ là biểu hiện của tính bằng phẳng, tính vô giới hạn của tâm hồn Nga, các khoảng không vô tận của nó, sự phụ thuộc của nó vào tố chất dân tộc chưa định hình. Tất cả những điều đó chỉ là biểu tượng của tự nhiên trong con người Nga. Không phải vô cớ một dân tộc chỉ sống được trong một thiên nhiên này hay thiên nhiên khác, trên mảnh đất này hay mảnh đất khác. Ở đây có mối quan hệ bên trong. Bản thân thiên nhiên, bản thân đất đai được xác định là khuynh hướng căn bản của tâm hồn dân tộc. Các bình nguyên Nga, cũng như các mương xói Nga - đều là biểu tượng của tâm hồn Nga. Trong toàn bộ kết cấu đất đai Nga toát lên cái khó khăn cho con người chinh phục mảnh đất đó, ban hình dạng cho nó, bắt nó chịu theo canh tác. Con người Nga nằm trong quyền lực của thiên nhiên của mình, trong quyền lực của đất đai, trong quyền lực của môi trường tự nhiên. Điều đó có nghĩa là trong kết cấu tâm hồn con người Nga hình thức không chi phối được nội dung, tố chất thể xác-tâm hồn không chi phối được tinh thần. Trong ngay kết cấu của đất đai Nga bộc lộ cái khó khăn cho con người Nga về kỷ luật tự giác tinh thần. Tâm hồn nó trôi nổi trên bình nguyên bất tận, phiêu du đến những khoảng xa xăm vô tận. Chốn xa xăm, sự vô tận quyến rũ tâm hồn Nga. Nó không thể sống trong giới hạn và trong hình dạng, trong sự phân định của văn hóa, tâm hồn đó khao khát đến cái kết thúc và tận cùng, bởi vì nó chưa biết đến ranh giới và hình dạng của cuộc sống, chưa gặp những đường nét và giới hạn của kỷ luật trong kết cấu đất đai của mình, trong thiên nhiên của mình. Đó là tâm hồn tận thế luận xét theo tâm trạng và chí hướng cơ bản của nó. Một tâm hồn cực kỳ nhạy cảm với những dòng mạch thần bí và khải huyền. Nó không bị biến thành pháo đài, như tâm hồn con người châu Âu, không bị bao bọc bằng nước thép của kỷ luật tôn giáo và văn hóa. Tâm hồn đó rộng mở cho mọi khoảng không, khát khao tới xa tắp tận cùng của lịch sử. Nó dễ dàng dứt bỏ mọi mảnh đất và phiêu du trong cơn lốc xoáy hoang dại đến khoảng xa tít tắp. Trong nó có thiên hướng phiêu lãng trên khắp các bình nguyên bao la của đất đai Nga. Sự thiếu hụt hình thức, sự yếu ớt về kỷ luật dẫn đến việc trong con người Nga không có bản năng tự bảo tồn thực sự, nó dễ tự huỷ diệt mình, đốt cháy mình, biến thành tro bụi trong không gian. A. Belyi đã nói những lời tuyệt vời trong bài thơ tuyệt diệu dành tặng nước Nga:

Hãy biến mất trong không gian, hãy biến đi.

  Nước Nga, nước Nga của tôi”.


Tâm hồn Nga có khả năng đạt tới sự say mê cái chết. Nó ít quý báu cái gì đó, ít gắn bó chặt chẽ với điều gì đó. Nó không có mối liên kết với văn hóa, không có sự cùm xích bởi truyền thống và tập tục, như trong tâm hồn Tây Âu. Con người Nga, còn chưa biết đến hình ảnh thực sự của văn hóa, vô cùng dễ trải qua khủng hoảng văn hóa. Từ đây sinh ra chủ nghĩa hư vô điển hình cho con người Nga. Nó dễ dàng từ chối khoa học và nghệ thuật, nhà nước và kinh tế, nổi loạn chống lại các mối liên hệ được kế thừa và lao về phía vương quốc chưa từng biết, tới khoảng xa xăm bí ẩn. Tâm hồn Nga có khả năng lao vào những thực nghiệm triệt để, mà tâm hồn Tây phương không thể làm được, bởi vì đã quá định hình, quá phân liệt, quá trói buộc trong các ranh giới và giới hạn, quá gắn chặt với truyền thống và tập tục của dòng tộc mình. Chỉ có trên tâm hồn Nga mới có thể tiến hành những thực nghiệm tinh thần mà Dostoievski đã tiến hành. Dostoievski khảo cứu những khả năng bất tận của tâm hồn con người. Các dạng thức và giới hạn của tâm hồn Tây Âu, sự ràng buộc văn hóa của nó và tính chai cứng dân tộc là cản trở cho những khảo cứu kiểu này. Vì thế tại sao Dostoievski chỉ có thể hình dung được trong nước Nga và chỉ có tâm hồn Nga mới có thể trở thành nguyên liệu, trên đó ông thực hiện những phát kiến của mình.

*

* *

Dostoievski là một nhà dân túy đặc biệt, ông tin tưởng và tuyên truyền chủ nghĩa dân túy tôn giáo. Chủ nghĩa dân túy là sản phẩm độc đáo của tinh thần Nga. ở phương Tây không có chủ nghĩa dân túy, đó là hiện tượng thuần túy Nga. Chỉ có ở nước Nga mới có thể gặp được những đối lập vĩnh cửu đó giữa “giới trí thức” và “nhân dân”, sự lý tưởng hóa “nhân dân” đến mức sùng bái nó, sự tìm kiếm trong “nhân dân” chân lý và Chúa. Chủ nghĩa dân túy luôn luôn là dấu hiệu của sự yếu ớt của tầng lớp có văn hóa ở Nga, sự thiếu vắng trong nó ý thức lành mạnh về sứ mệnh của mình. Nước Nga được hình thành là một vương quốc nông dân tăm tối và rộng lớn, do Sa hoàng đứng đầu, với sự phát triển không đáng kể của các giai cấp, với tầng lớp văn hóa cấp cao ít ỏi và tương đối yếu ớt, với sự phình to quá cỡ của bộ máy duy trì nhà nước. Cấu trúc như vậy của xã hội Nga, rất khác biệt với xã hội châu Âu, dẫn đến việc tầng lớp văn hóa cao nhất của chúng ta cảm thấy bất lực trước tố chất dân tộc,- trước đại dương nhân dân tăm tối, cảm thấy mối hiểm hoạ bị đại dương đó cuốn hút. Tầng lớp văn hóa được chính quyền Sa hoàng duy trì chưa đủ đáp ứng nhu cầu của nhân dân đối với văn hóa cấp cao. Chính thể Sa hoàng, được chuẩn y về mặt tôn giáo trong ý thức của nhân dân, cũng cách ly giới văn hóa khỏi sự u tối của nhân dân và xua đuổi họ. Họ cảm thấy mình bị kìm kẹp. Vào thế kỷ XIX ý thức của tầng lớp văn hóa - họ từ một thời điểm nhất định bắt đầu được gọi là “giới trí thức”- trở nên bi kịch. ý thức đó là ý thức bệnh hoạn, trong nó không có sức sống lành mạnh. Tầng lớp văn hóa cao nhất, vốn không có những truyền thống văn hóa vững chắc trong lịch sử Nga, không cảm thấy mối liên hệ hữu cơ với xã hội đã được phân hóa, với các tầng lớp mạnh mẽ, tự hào vì quá khứ lịch sử vinh quang của mình, đã được đặt giữa hai sức mạnh bí hiểm của lịch sử Nga,- sức mạnh của chính quyền Sa hoàng và sức mạnh đời sống nhân dân. Xuất phát từ bản năng tự bảo tồn tinh thần nó bắt đầu lý tưởng hóa khi thì yếu tố này, khi thì yếu tố kia, khi thì cả hai cùng lúc, tìm kiếm trong chúng những điểm tựa. Trên vực thẳm tăm tối của nhân dân, mênh mông như đại dương, tầng lớp có văn hóa cảm nhận tất cả sự bất lực của mình và mối nguy hiểm khủng khiếp bị cuốn chìm vào vực thẳm đó. Và thế là tầng lớp có văn hóa, được đổi tên sau sự xuất hiện các phần tử bình dân thành “giới trí thức”, đã đầu hàng trước môi trường nhân dân, bắt đầu tôn sùng cái môi trường đe doạ nuốt chửng mình. “Nhân dân” đối với “giới trí thức” là một sức mạnh bí ẩn, vừa xa lạ vừa hấp dẫn. Trong nhân dân ẩn chứa bí mật của đời sống đích thực, trong nó có một chân lý đặc biệt nào đó, trong nó có Chúa, người mà tầng lớp có văn hóa đã đánh mất. “Giới trí thức” không cảm thấy mình là tầng lớp hữu cơ của đời sống Nga, nó đã đánh mất tính toàn vẹn, đứt rời khỏi cội rễ. Tính toàn vẹn được lưu giữ trong “nhân dân’, “nhân dân” sống một cuộc sống hữu cơ, nó biết một chân lý trực tiếp nào đó của cuộc sống. Tầng lớp có văn hóa không đủ sức công nhận sứ mạng văn hóa của mình trước dân tộc, nghĩa vụ của mình đưa ánh sáng vào bóng tối của môi trường nhân dân. Nó nghi ngờ tính soi sáng của bản thân mình, không tin vào chân lý của mình, nghi ngờ giá trị hiển nhiên của văn hóa. Với thái độ như thế đối với văn hóa, được thể hiện trong tầng lớp có văn hóa của chúng ta, không thể hoàn thành sứ mệnh văn hóa đích thực. Chân lý của văn hóa phải chịu sự nghi ngờ của tôn giáo, đạo đức và xã hội. Văn hóa sinh ra trong sự không thực, nó phải chuộc bằng một giá quá đắt, nó biểu hiện sự đứt gãy với đời sống dân tộc, phá vỡ tính toàn vẹn hữu cơ của nó. Văn hóa là tội lỗi trước “nhân dân”, rời xa “nhân dân” và lãng quên “nhân dân”. Cảm giác có lỗi đó đeo đẳng giới trí thức Nga trong suốt thế kỷ XIX và làm tổn hại năng lực sáng tạo văn hóa. Trong “giới trí thức” Nga hoàn toàn không có ý thức về các giá trị hiển nhiên của văn hóa, về cái quyền đương nhiên sáng tạo ra các giá trị ấy. Các giá trị văn hóa phải chịu những nghi ngờ đạo đức, bị ngờ vực. Điều đó rất điển hình đối với chủ nghĩa dân túy Nga. Người ta tìm kiếm chân lý không phải trong văn hóa, không phải trong các thành tựu khách quan của nó, mà trong nhân dân, trong đời sống bột phát hữu cơ. Đời sống tôn giáo được hình dung không phải là văn hóa tinh thần, không phải là văn hóa của tinh thần, mà là một môi trường hữu cơ. Tôi đang phân tích đặc tính của các cơ sở khởi thuỷ của chủ nghĩa dân túy Nga, không phụ thuộc vào các khuynh hướng và sắc thái khác nhau của nó. Trong thực tế, chủ nghĩa dân túy Nga trước hết phân hóa thành dân túy tôn giáo và dân túy duy vật. Nhưng ngay trong giới dân túy duy vật, mà nó là sự suy đồi của tầng lớp văn hóa chúng ta, cũng toát lên chính cái tâm lý có ở trong chủ nghĩa dân túy tôn giáo. Và những nhà dân túy theo chủ nghĩa xã hội và vô thần Nga có các nét giống nhau với những nhà dân túy-Slavơ chủ nghĩa. Vẫn là sự lý tưởng hóa nhân dân ấy, vẫn mối nghi ngờ văn hóa ấy. Trong khuynh hướng cực “hữu” và cực “tả” của chúng ta đôi khi có những nét tương đồng đến kinh ngạc, ẩn chứa chính cái tố chất “đen” thù địch với văn hóa đó. Vẫn chỉ một cái căn bệnh tinh thần dân tộc của chúng ta được phát hiện trong các cực đối nghịch. Vẫn là sự chưa phát lộ và chưa phát triển hết trong chúng ta cái yếu tố cá nhân ấy, cái văn hóa cá nhân, văn hóa trách nhiệm cá nhân và danh dự cá nhân. Vẫn là sự thiếu năng lực tự lập tinh thần ấy, tính không kiên trì, sự tìm kiếm chân lý không phải trong mình mà là ở ngoài mình. Sự thiếu vắng đẳng cấp hiệp sĩ trong lịch sử Nga có những hậu quả bất hạnh đối với văn hóa đạo đức của chúng ta. “Chủ nghĩa tập thể” Nga và “tính cộng đồng” Nga được tôn vinh như ưu thế vĩ đại của dân tộc Nga, làm nó nổi bật trên các dân tộc châu Âu. Nhưng trong thực tế điều đó thể hiện việc cá nhân, tinh thần cá nhân còn chưa thức tỉnh đầy đủ trong dân tộc Nga, rằng cá nhân còn quá đắm chìm trong bản năng tự nhiên của đời sống dân tộc. Vì thế chỉ có ý thức dân túy chủ nghĩa mới có thể cảm thấy chân lý và Chúa không phải trong cá nhân, mà là trong nhân dân.

Vậy “nhân dân” là gì theo ý thức của chủ nghĩa dân túy, cái sức mạnh bí ẩn đó là gì? Bản thân khái niệm “nhân dân” cũng còn rất không rõ ràng và pha tạp. “Nhân dân” trong các hình thức hiện hành của ý thức dân túy chủ nghĩa không phải là dân tộc, như một cơ cấu toàn vẹn, trong đó có tất cả các giai cấp, các tầng lớp của xã hội, tất cả các thế hệ lịch sử, người trí thức và nhà quý tộc cũng giống như người nông dân, thương gia và địa chủ cũng giống như người công nhân. Từ “nhân dân” ở đây không chỉ có ý nghĩa bản thể và duy nhất chính đáng ấy, trước tiên nó có ý nghĩa giai cấp-xã hội. “Nhân dân” đa phần là nông dân và công nhân, những tầng lớp thấp của xã hội, sống bằng lao động chân tay. Vì thế nhà quý tộc, chủ xưởng hoặc thương nhân, nhà bác học, nhà văn hay hoạ sĩ - không phải là “nhân dân”, không phải bộ phận hữu cơ “của nhân dân”, họ đối lập với “nhân dân”, như “giai cấp tư sản” hay như “tầng lớp trí thức”. Trong chủ nghĩa dân túy duy vật và “tả khuynh” cách mạng có cách hiểu triệt để giai cấp-xã hội như vậy về “nhân dân”. Nhưng thật ngạc nhiên là cả ở chủ nghĩa dân túy tôn giáo, cả ở chủ nghĩa Slavơ cũng có cách hiểu giai cấp-xã hội như thế về “nhân dân”, và mâu thuẫn sâu sắc với khuynh hướng cố hữu của ý thức Slavơ chủ nghĩa. Cả đối với một nhà Slavơ chủ nghĩa, cả đối với Dostoievski, “nhân dân” trước hết là nhân dân lao động, giai cấp nông dân, những người mu-gích. Đối với họ tầng lớp có văn hóa đã tách rời khỏi nhân dân và đứng đối lập với “nhân dân” và chân lý của nhân dân. Chân lý nằm trong những người mu-gích, chứ không phải trong các nhà quý tộc, không phải trong giới trí thức. Những người mu-gích bảo lưu đức tin đích thực. ở tầng lớp văn hóa cao nhất đã bị tước mất cái quyền cảm thấy mình là bộ phận hữu cơ của nhân dân, phát hiện trong sâu thẳm bản thân mình nguyên khí của dân tộc. Nếu tôi là nhà quý tộc hay thương nhân, nếu tôi là nhà bác học hay nhà văn, kỹ sư hay bác sĩ, thì tôi không thể cảm thấy mình là “nhân dân”, tôi phải cảm thấy “nhân dân” như một tố chất bí ẩn đối lập với mình, mà trước nó tôi phải sùng kính như trước người mang chân lý tối cao. Không thể có quan hệ nội tại đối với “nhân dân” và “tính nhân dân”, mà quan hệ đó mãi mãi là siêu tại. “Nhân dân” - đó trước hết là “không phải tôi”, nó đối lập với tôi, là cái mà trước nó tôi nghiêng mình kính cẩn, cái hàm chứa trong mình “chân lý” mà trong tôi không có, cái mà trước nó tôi cảm thấy có lỗi. Nhưng đó là ý thức nô lệ, trong đó không có tự do tinh thần, không có ý thức phẩm giá tinh thần của bản thân. “Chủ nghĩa dân túy” sai trái của Dostoievski mâu thuẫn với những lời tuyệt vời về tầng lớp quý tộc Nga, được đặt vào miệng Versilov: “Tôi không thể không kính trọng giới quý tộc của chúng ta. ở nước ta hàng thế kỷ đã tạo ra một kiểu người văn hóa cấp cao nào đó chưa từng có ở đâu, kiểu người không có trên cả thế giới này - kiểu người lo lắng cho toàn thế giới. Đó là kiểu người Nga, nhưng vì anh ta được lấy từ tầng lớp văn hóa cao nhất của nhân dân Nga, cho nên, đương nhiên, tôi cảm thấy vinh dự thuộc về nó. Nó gìn giữ trong mình tương lai của nước Nga. Có thể chúng tôi tất cả chỉ có khoảng một nghìn người - có thể hơn, hoặc kém, nhưng toàn bộ nước Nga hiện tại chỉ sống để sinh ra một nghìn người này”.

Các thiên tài Nga vĩ đại nhất trên đỉnh cao đời sống tinh thần và sáng tạo văn hóa của mình đã không chịu nổi thử thách của độ cao và của tự do trên tầng cao tinh thần, họ sợ hãi đơn độc và lao bổ xuống dưới, xuống vùng đất thấp của đời sống nhân dân và từ sự hợp lưu với môi trường ấy họ hy vọng tìm thấy chân lý tối cao. Ngay ở những người Nga tuyệt diệu nhất cũng không có chất hứng khởi của một cuộc leo núi. Họ sợ cô đơn, chia rẽ, lạnh lẽo, họ tìm sự ấm áp trong đời sống tập thể của dân tộc. Ở đây có sự khác nhau căn bản giữa thiên tài Nga - Dostoievski, với thiên tài châu Âu - Nietzsche. Cả Tolstoi và Dostoievski đều không chịu nổi độ cao và lao xuống dưới, xuống cái môi trường dân tộc tối tăm, bí ẩn, không ôm chứa nổi. Trong nó họ hy vọng tìm thấy chân lý hơn là trên núi cao. Những người thể hiện đầu tiên ý thức dân tộc của chúng ta - những nhà Slavơ chủ nghĩa cũng vậy. Họ đứng trên tầm cao của văn hóa châu Âu, là những người Nga có văn hóa nhất. Họ hiểu rằng văn hóa chỉ có thể mang tính dân tộc và ở đây họ tiến gần đến những người phương Tây hơn là những người “phương Tây chủ nghĩa” của chúng ta. Nhưng họ đầu hàng trước vương quốc của những người nông dân, rơi xuống vực sâu bí hiểm của nó. Họ không tìm thấy trong mình sức mạnh bảo vệ chân lý của mình, bộc lộ chân lý đó trong toàn bộ chiều sâu, như chân lý dân tộc, chung cho toàn dân, họ bị lầm lạc trong cách hiểu “nhân dân” như tầng lớp lao động, đối lập với tầng lớp văn hóa, và điều đó có hậu quả nguy hại đối với ý thức tự ngã dân tộc của chúng ta. Chủ nghĩa dân túy “tả khuynh”, phi tôn giáo của chúng ta đã gặt được những hoa trái bất hạnh của cách hiểu giai câp-xã hội về “nhân dân” ấy. Vực thẳm giữa “giới trí thức” và “nhân dân” càng được đào sâu thêm và hợp pháp hóa. ý thức dân tộc trở nên không thể, chỉ có thể có ý thức dân túy. Trong khi ấy thì chính chủ nghĩa Slavơ đã đặt cơ sở cho cách hiểu hữu cơ “nhân dân” như là dân tộc, như một cơ chế thần bí. Nhưng cả các nhà Slavơ chủ nghĩa cũng trở thành nạn nhân của căn bệnh của tầng lớp có văn hóa chúng ta. Chính căn bệnh ấy làm tổn hại ý thức của Dostoievski. Chủ nghĩa Mác phân chia về mặt lý luận khái niệm “nhân dân” thành các giai cấp và bằng cách đó giáng một đòn vào ý thức dân túy chủ nghĩa, nhưng sau đó bản thân nó cũng lâm vào sự thoái hóa của chủ nghĩa dân túy.

*

* *


Chủ nghĩa dân túy của Dostoievski - là chủ nghĩa dân túy đặc biệt. Đó là chủ nghĩa dân túy tôn giáo. Nhưng ngay những người Slavơ chủ nghĩa cũng từng tuyên truyền một chủ nghĩa dân túy tôn giáo. Koselev nói rằng nhân dân Nga chỉ tốt đẹp khi đi cùng đạo Chính thống, còn nếu thiếu đạo Chính thống nó là kẻ vô lại. Những người Slavơ chủ nghĩa tin rằng dân tộc Nga là dân tộc mang tính Ki tô giáo nhất và duy nhất Ki tô giáo trên thế giới. Song đức tin tôn giáo của Dostoievski vào dân tộc Nga đã thuộc về một thời đại khác. Những người theo chủ nghĩa Slavơ cảm thấy mình vẫn còn cắm sâu vững chãi vào đất mẹ, còn cảm thấy mặt đất rắn chắc dưới chân mình. Họ vẫn còn là những con người đời thường, yêu quý sự ấm cúng của đời sống. Trong họ vẫn còn mãnh liệt sự khoan khóai của các địa chủ Nga, lớn lên trong tổ ấm thân thuộc và suốt đời vẫn là chủ sở hữu những tổ ấm ấy. Không thể tìm thấy ở họ cái gì là hiểm họa, không có bất kỳ một linh cảm nào về tương lai tận thế huyền bí. Dostoievski đã hoàn toàn thuộc về thời đại thụ cảm thế giới đầy tai biến, thời đại tôn giáo hướng về sự Khải huyền tận thế. Ý thức dân tộc cứu thế của ông trở nên phổ quát, toàn nhân loại, hướng tới số phận của toàn thế giới. Những người Slavơ chủ nghĩa vẫn là những người địa phương chủ nghĩa so với Dostoievski. Thái độ của Dostoievski đối với châu Âu khác căn bản so với những người theo chủ nghĩa Slavơ, phức tạp hơn và căng thẳng hơn một cách không thể so sánh. Và thái độ của ông đối với lịch sử Nga cũng thay đổi. Dostoievski đã không còn thiên hướng cực kỳ lý tưởng hóa nước Nga trước thời Piotr. Ông đánh giá ý nghĩa to lớn của Peterburg, của thời đại Piotr trong lịch sử Nga. Ông là nhà văn của thời đại này. Ông quan tâm đến số phận con người trong nước Nga Peterburg, nước Nga thời Piotr, đến những trải nghiệm bi kịch, phức tạp của kẻ phiêu lãng Nga, bị dứt đứt ra khỏi mảnh đất quê hương trong thời kỳ đó. Về phương diện này ông nối tiếp Puskin. Chính sự huyền ảo của Peterburg, được Puskin miêu tả một cách thiên tài, đã cuốn hút Dostoievski. Lối sống nông dân và địa chủ ở Moskva hoàn toàn xa lạ với ông. Ông bị “giới trí thức” Nga trong thời kỳ Peterburg của lịch sử Nga cực kỳ quyến rũ. Toàn bộ con người ông chìm ngập trong linh cảm về những tai hoạ tương lai. Ông là nhà văn của thời đại, trong đó cuộc cách mạng bên trong đã bắt đầu. Dostoievski không phải là người theo chủ nghĩa Slavơ ở nghĩa truyền thống của từ này, cũng như Konstantin Leonchev không phải là nhà Slavơ chủ nghĩa. Đó là những người của chế độ mới. ở những người Slavơ chủ nghĩa không có chất cực kỳ năng động ấy của Dostoievski.

Trong “Nhật ký nhà văn” chúng ta tìm thấy hàng loạt ý kiến phủ định những người Slavơ chủ nghĩa, thậm chí không phải lúc nào cũng công bằng: “Các nhà Slavơ chủ nghĩa có khả năng hiếm có là không nhận ra mình và không hiểu gì trong thực tế đương thời”. Dostoievski bảo vệ những người “phương Tây chủ nghĩa” đối lại với những người theo chủ nghĩa Slavơ. “Dường như những người theo chủ nghĩa phương Tây không có cái nhạy cảm đó của tinh thần Nga và tính nhân dân, như ở những người Slavơ chủ nghĩa?” “Chúng tôi chỉ muốn tuyên bố về một yếu tố có phần viển vông của chủ nghĩa Slavơ, yếu tố ấy đôi khi dẫn nó đến việc hoàn toàn không nhận ra mình và không hoà hợp hoàn toàn với thực tế. Cho nên trong mọi trường hợp chủ nghĩa thân phương Tây dù sao cũng thực tế hơn chủ nghĩa Slavơ, và dù có những sai lầm của mình, nó vẫn đi xa hơn, sự vận động dù sao vẫn nằm ở phía nó, trong khi chủ nghĩa Slavơ thường xuyên đứng yên một chỗ và thậm chí coi đó là danh dự lớn của mình. Chủ nghĩa thân phương Tây dũng cảm đặt cho mình vấn đề cuối cùng và giải quyết nó trong đau đớn, và, thông qua ý thức tự giác, dù sao vẫn quay lại mảnh đất dân tộc và công nhận sự liên kết với các yếu tố dân tộc và sự cứu vớt trong đất mẹ. Chúng tôi, về phía mình, tuyên bố như một sự thật, và tin tưởng vững chắc vào tính không thay đổi của nó, rằng trong bước ngoặt ngày nay, gần như là bước ngoặt toàn phần quay về cội nguồn, ý thức hoặc vô thức, thì ảnh hưởng của những người Slavơ chủ nghĩa tham dự vào quá ít, và thậm chí, có lẽ hoàn toàn không tham dự”. Dostoievski kính trọng những người thân phương Tây vì sự thử nghiệm của họ, vì ý thức phức tạp hơn, vì sự năng động của ý chí. Ông thấy phẫn nộ vì những người Slavơ chủ nghĩa đặt mình một cách quý tộc ra ngoài tiến trình sống nhức nhối, ra ngoài chuyển biến văn học và nhìn mọi sự từ trên cao. Đối với Dostoievski, “các cậu bé Nga”, những kẻ vô thần, các nhà xã hội chủ nghĩa và những kẻ vô chính phủ - là hiện tượng của tinh thần Nga. Và nền văn học “phương Tây chủ nghĩa” của chúng ta cũng là hiện tượng của tinh thần Nga. Nó đứng sau chủ nghĩa hiện thực, sau chủ nghĩa hiện thực bi kịch của cuộc sống, đối lập với chủ nghĩa duy tâm của những người Slavơ chủ nghĩa. Dostoievski hiểu cái chuyển biến tinh thần được thực hiện ở Nga. Trong ý thức tiên tri của mình ông mở ra bản chất của chuyển biến đó và chỉ ra những ranh giới khủng khiếp mà nó sẽ tiến tới. Ông đứng trên giác độ thử nghiệm tinh thần, sự tất yếu phải có thử thách tinh thần. Còn những người Slavơ chủ nghĩa trong thời đại của ông, ở thế hệ thứ hai của mình, đã thôi hiểu bất kỳ sự chuyển động nào, họ sợ bất kỳ sự thử nghiệm nào. Đó hoàn toàn là các thái độ khác nhau đối với cuộc sống. “Tính bản thổ” của Dostoievski sâu sắc hơn “tính bản thổ” của những người Slavơ chủ nghĩa. Dostoievski nhìn thấy thổ nhưỡng Nga trong những vỉa tầng sâu xa nhất, những vỉa tầng chỉ phát lộ sau những cơn động đất và sụt lở. Đó không phải là thổ nhưỡng thông thường. Đó là chất thổ nhưỡng bản thể luận, sự nhận biết tinh thần dân tộc ở chiều sâu nhất của tồn tại.

Còn tiếp

Phần 1, 2

Các bài khác:
 

Hệ thống biểu tượng trong 'Biên niên ký chim vặn dây cót'

Có một triết gia Nguyễn Huy Thiệp

Tuyết bỏng

Dục vọng trong tiểu thuyết VN về chiến tranh (phần 2)

Dục vọng trong tiểu thuyết VN về chiến tranh từ 1986 đến 1996 (phần 1)

Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học VN sau 1986

Kiểu kết cấu trò chơi trong 'Lá diêu bông'

Ngôn ngữ và nhà thơ

Aristotle là kẻ đạo văn lớn nhất mọi thời đại?

Một số đặc điểm trong tư duy tự sự của Nam Cao qua 'Chí Phèo'

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z