|
Tâm hồn Nga (2)
Có thể theo dõi tính trái nghịch bí ẩn này trong mọi sự ở nước Nga. Có thể xác định hằng hà sa số những luận đề và phản luận đề về tính cách của dân tộc Nga, phát hiện nhiều mâu thuẫn trong tâm hồn Nga. Nước Nga - đó là đất nước của tự do tinh thần vô bờ bến, đất nước của những phiêu du và kiếm tìm chân lý của Chúa.
Nước Nga là đất nước phi tư sản nhất trên thế giới; ở đó không có tầng lớp thị dân vững chắc, cái mà người Nga căm ghét và ghê tởm ở phương Tây. Dostoievski, qua ông có thể tìm hiểu tâm hồn Nga, trong một huyền thoại gây chấn động của mình về Vị quan toà giáo hội Vĩ đại đã là người tuyên bố về sự tự do táo bạo và bất tận trong Đức Ki tô, điều chưa một ai trên thế giới dám khẳng định. Sự khẳng định tự do của tinh thần, như một cái gì đó đặc trưng Nga, luôn luôn là đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa Slavơ. Những người Slavơ chủ nghĩa và Dostoievski luôn đặt đối lập tự do bên trong của dân tộc Nga, cái tự do tôn giáo, hữu cơ của nó, cái tự do mà nó không nhường nhịn vì bất kỳ lợi ích nào trên thế giới, với sự mất tự do bên trong của các dân tộc phương Tây, sự nô dịch của họ vào những thứ bề ngoài. Trong dân tộc Nga thực sự có sự tự do tinh thần, điều đó chỉ ban cho những ai không quá mê mẩn bởi khát khao lợi lộc và tiện nghi trần thế. Nước Nga - đất nước của tự do lối sống, mà các dân tộc tân tiến phương Tây không biết đến, vì bị nô lệ cho các chuẩn mực thị dân. Chỉ có ở nước Nga mới không có quyền lực đè nặng của các quy tắc tư sản, không có chế độ chuyên quyền trong gia đình tư sản. Con người Nga với sự nhẹ nhàng rất mực của tinh thần đã vượt qua bất kỳ thói tư sản nào, thoát khỏi bất kỳ lối sống nào, bất kỳ cuộc sống quy chuẩn nào. Kiểu người lãng du thần hiệp thật đặc trưng cho nước Nga và thật tuyệt vời. Kẻ phiêu lãng thần hiệp là người tự do nhất trên trái đất này. Anh ta đi trên mặt đất, nhưng con người anh ta ở trên không trung, anh ta không bị lún chìm xuống đất, trong anh ta không có gì thấp kém cả. Người lãng du thần hiệp được tự do khỏi “nhân thế” và toàn bộ trọng lực của trái đất và cuộc sống trần thế đối với anh ta chỉ như cái bị nhỏ trên vai. Sự vĩ đại của dân tộc Nga và tính sứ mệnh của nó đối với sự sống cao nhất hội tụ trong kiểu người lãng du này. Kiểu lữ khách Nga tìm thấy cho mình sự thể hiện không chỉ trong đời sống dân tộc, mà cả trong đời sống văn hóa, trong đời sống của bộ phận ưu tú nhất của giới trí thức. Và ở đây chúng ta biết đến những kẻ phiêu lãng tự do về mặt tinh thần, không bị ràng buộc với bất cứ thứ gì, những lữ khách mãi mãi đi tìm thành phố vô hình. Câu chuyện về họ có thể tìm đọc trong nền văn học Nga vĩ đại. Trong đời sống văn hóa và trí thức, người ta gọi những kẻ bôn ba lúc thì là những người phiêu bạt của mảnh đất Nga, khi thì là những người vong bản. Họ đã có trong Puskin và Lermontov, sau đó trong Tolstoi và Dostoievski. Những Raskolnikov, Myskin, Stavrogil, Versilov, công tước Andrei và Pier Bezukhov, tất cả họ đều là những kẻ phiêu bạt tinh thần. Những kẻ phiêu bạt không có thành quốc của mình, họ đang tìm kiếm thành quốc tương lai. Vl. Soloviev thường xuyên cảm thấy mình không phải một kẻ phàm tục và thị dân của mảnh đất này, mà chỉ là người ngụ cư và lang bạt không có mái nhà của mình. Skovoroda - nhà hiền triết lãng du xuất thân từ nhân dân vào thế kỷ XVIII cũng là như thế. Sự phiêu du tinh thần cũng có trong Lermontov, trong Gogol, trong Tolstoi và Dostoievski, còn ở cực bên kia - có trong những kẻ theo chủ nghĩa vô chính phủ và các nhà cách mạng Nga, khát khao theo cách của mình vươn tới cái tuyệt đối, vượt ra khỏi giới hạn của cuộc sống thực tế và trông thấy được. Điều đó cũng có trong các giáo phái ly khai Nga, trong khát vọng thần bí của nhân dân, trong ước muốn điên cuồng ấy, sao cho “Tinh thần tràn ngập”. Nước Nga - đất nước lạ thường về sự mụ mẫm tinh thần, đất nước của roi vọt, của những kẻ tự thiêu, những kẻ vô thần, đất nước của Kondrati Selivanov và Grigori Rasputin, đất nước của những kẻ mạo xưng và những Pugatsov. Tâm hồn Nga không ngồi yên được một chỗ, nó không phải là tâm hồn thị dân, không phải tâm hồn người địa phương. ở nước Nga, trong tâm hồn dân tộc có một sự kiếm tìm bất tận nào đó, kiếm tìm thành phố vô hình Kitrezh, kiếm tìm ngôi nhà vô hình. Trước tâm hồn Nga mở ra những khoảng xa xăm và không có đường chân trời giới hạn trước đôi mắt tinh thần của nó. Tâm hồn Nga bùng cháy trong sự tìm kiếm rực lửa chân lý, cái chân lý tuyệt đối, chân lý của Chúa và tìm cách cứu vớt toàn thể thế giới và phục sinh cho họ đến cuộc sống mới. Nó vĩnh viễn sầu nhớ về nỗi đớn đau và thống khổ của dân tộc và toàn thế giới, và nỗi khổ não của nó không bao giờ dịu bớt. Tâm hồn ấy mê mẩn giải quyết những vấn đề tối hậu, đeo bám dai dẳng về ý nghĩa của cuộc sống. Trong tâm hồn Nga có tinh thần nổi loạn, không thần phục, sự không nguôi ngoai và không thỏa mãn trước bất kỳ điều gì tạm thời, tương đối và ước lệ. Mọi sự cứ phải đi tiếp, tiếp nữa cho đến tận cùng, đến giới hạn, đến khi ra khỏi “thế giới” này, mặt đất này, ra khỏi tất cả những gì ràng buộc, hẹp hòi, bản địa. Nhiều lần người ta đã chỉ ra rằng bản thân chủ nghĩa vô thần Nga mang tính tôn giáo. Giới nhân sĩ trong trạng thái anh hùng đã đi thẳng đến cái chết nhân danh những tư tưởng của chủ nghĩa duy vật. Mâu thuẫn kỳ lạ đó sẽ trở nên dễ hiểu, nếu ta nhìn thấy, dưới bộ mặt duy vật, nó khát khao vươn tới cái tuyệt đối. Sự nổi loạn Slavơ là tố chất rực lửa, nhiệt thành không hiểu nổi đối với các chủng tộc khác. Và Bakunin, trong khao khát bốc lửa của mình muốn có một trận hỏa hoạn thế giới, ở đó mọi sự cũ kỹ đều cháy rụi, là một người Nga, người Slavơ, một người theo chủ nghĩa cứu thế. Đó là một trong các luận đề về tâm hồn Nga. Cuộc sống dân tộc Nga cùng với những giáo phái thần bí của nó, cả văn học Nga và tư tưởng Nga, cả số phận khắc nghiệt của các nhà văn Nga và số phận của giới trí thức Nga, vừa bị dứt đứt khỏi nền đất mẹ, vừa đồng thời điển hình dân tộc dường ấy, tất thảy đều cho chúng ta quyền khẳng định cái luận đề rằng nước Nga là đất nước của tự do vô tận và những cõi xa tinh thần, đất nước của những kẻ lãng du, phiêu bạt và tìm kiếm, đất nước nổi loạn và khủng khiếp trong bản năng tự nhiên của mình, trong chất Dionisos dân tộc không muốn biết đến hình dạng.
Và đây lại là một phản luận đề nữa. Nước Nga là đất nước của chủ nghĩa nô bộc chưa từng thấy và cam chịu khủng khiếp, đất nước đánh mất ý thức về quyền cá nhân và không bảo vệ phẩm giá cá nhân, đất nước của chủ nghĩa bảo thủ trơ ỳ, của sự nô dịch đời sống tôn giáo vào nhà nước, đất nước của lề thói bền vững và tính thể xác nặng nề. Nước Nga - đất nước của các thương nhân đắm mình trong vật chất đè nặng, những kẻ tham lam, trì trệ đến bất động, đất nước của những quan lại chưa bao giờ bước ra khỏi biên giới của vương quốc khép kín và quan liêu vô sinh khí, đất nước của những nông dân không ao ước gì ngoài đất đai và tiếp nhận đạo Ki tô hoàn toàn bề ngoài và vụ lợi, đất nước của giới tăng lữ chìm ngập trong cuộc sống vật chất, đất nước của tín ngưỡng vào nghi lễ, đất nước của giới trí thức hủ lậu và bảo thủ trong tư duy mới được lây nhiễm những tư tưởng duy vật hời hợt nhất. Nước Nga không yêu cái đẹp, sợ cái đẹp, như là một sự xa hoa, không muốn bất kỳ sự dư dật nào. Hầu như không thể xê dịch được nước Nga bởi nó thật nặng nề, thật trơ ỳ, thật lười nhác, thật đắm chìm trong vật chất, thật ngoan ngoãn cam chịu cuộc sống của mình. Tất cả các đẳng cấp của chúng ta, các tầng lớp nền tảng của chúng ta: giới quý tộc, giới thương nhân, nông dân, tăng lữ, quan lại,- tất cả đều không muốn và không thích gập ghềnh; tất cả đều ưa thích ở vùng thấp, trên đồng bằng, muốn “như tất cả mọi người”. Khắp nơi cá nhân bị đè bẹp trong tập thể cố hữu. Các tầng lớp nền tảng của chúng ta đánh mất quyền ý thức và thậm chí cả phẩm giá, họ không muốn có tinh thần sáng tạo và tích cực, luôn trông mong những người khác sẽ làm thay họ tất cả. Ngay chủ nghĩa cách mạng chính trị của chúng ta cũng vì sao đó không tự do, không đơm hoa kết trái và trơ ỳ về mặt tư duy. Giới trí thức dân chủ cấp tiến Nga, với tư cách tầng lớp kết tinh, về mặt tinh thần lại bảo thủ và xa lạ với tự do thực sự; nói đúng hơn nó chỉ nắm bắt cái tư tưởng bình đẳng máy móc, chứ chưa phải là tự do. Một số người có cảm giác nước Nga bị tiền định làm nô lệ và không có lối thoát cho nó đến với cuộc sống tự do. Có thể nghĩ rằng cá nhân còn chưa thức tỉnh không chỉ ở nước Nga bảo thủ, mà cả ở nước Nga cách mạng, rằng nước Nga vẫn còn là đất nước của tập thể vô bản ngã. Nhưng cần phải hiểu rằng tính tập thể Nga xa xưa chỉ là hiện tượng nhất thời trong giai đoạn sơ khởi của tiến hoá tự nhiên, chứ không phải hiện tượng vĩnh cửu của tinh thần.
Phải hiểu mối mâu thuẫn bí ẩn này của nước Nga, tính đúng đắn ngang nhau của các luận đề loại trừ lẫn nhau này như thế nào? Và ở đây, cũng như ở khắp nơi, trong vấn đề tự do và nô lệ của tâm hồn Nga, về tính phiêu lãng và tính kém năng động của nó, chúng ta lại va chạm với cái bí mật của mối tương quan giữa nam tính và nữ tính. Cội rễ của những mâu thuẫn sâu sắc ấy nằm trong tính không hòa hợp giữa tính nam và tính nữ trong tinh thần Nga và tính cách Nga. Sự tự do vô hạn lại biến thành sự nô lệ vô hạn, sự phiêu du vĩnh cửu – thành sự trì trệ vĩnh cửu, bởi vì tinh thần tự do nam tính chưa chế ngự được tố chất dân tộc nữ tính ở bên trong, từ thẳm sâu của nước Nga. Yếu tố nam tính luôn được chờ đợi từ bên ngoài vào, yếu tố bản ngã còn chưa phát lộ trong chính dân tộc Nga. Từ đây sinh ra sự phụ thuộc vĩnh cửu vào chủng tộc khác. Trong các thuật ngữ triết học, điều đó có nghĩa là nước Nga luôn cảm thấy yếu tố nam tính trong mình là siêu tại, chứ không phải nội tại, đến từ bên ngoài. Gắn liền với điều đó là việc tất cả những gì dũng cảm, giải phóng và tạo dựng ở nước Nga đều tỏ ra dường như không phải chất Nga, mà của nước ngoài, của Tây Âu, Pháp hay Đức, hoặc của Hy Lạp thời xa xưa. Nước Nga dường như bất lực trong việc tự đưa mình vào tồn tại tự do, bất lực trong việc tạo dựng một bản ngã từ mình. ở nước Nga việc quay về “bản thổ” của chính mình, về tố chất dân tộc của mình rất dễ mang tính lệ thuộc, dẫn tới sự thiếu chủ động, chuyển thành phản động. Nước Nga là cô vợ chưa cưới, chờ đợi người chồng tương lai, người phải đến từ tầng cao nào đó, nhưng đến với nó không phải người chồng chưa cưới, mà là một kẻ cầm quyền và điều khiển nó theo kiểu Đức. Trong đời sống tinh thần điều khiển nó lúc là Marx, lúc là Kant, lúc là Steiner, lúc là một ông chồng ngoại quốc nào đó. Nước Nga, đất nước độc đáo là thế, đất nước với tinh thần lạ thường là thế, lại thường xuyên nằm trong quan hệ nô lệ đối với Tây Âu. Nó không học ở phương Tây cái gì tốt và cần thiết, không hội nhập với văn hoá châu Âu, điều sẽ giúp ích cho nó, mà phụ thuộc một cách nô lệ vào phương Tây, hoặc đả phá phương Tây, phủ nhận văn hóa trong thứ phản ứng dân tộc hoang dại. Thần Apollon, vị thần nam tính không thể nào phù hợp với nước Nga mang tính Dionisos. Tính Dionisos Nga – là tính man dại, chứ không phải tính Hy Lạp. Cả ở các nước khác cũng có thể tìm thấy những điều trái ngược, nhưng chỉ ở Nga luận đề mới trở thành phản luận đề, nhà nước quan liêu được sinh ra từ chủ nghĩa vô chính phủ, sự nô lệ sinh ra từ tự do, chủ nghĩa dân tộc cực đoan sinh ra từ chủ nghĩa siêu dân tộc. Chỉ có một cách ra khỏi cái vòng không lối thoát đó: phát lộ trong chính bản thân nước Nga, trong lòng sâu tinh thần của nó cái nhân tố nam tính, nhân tố bản ngã, tạo dựng, và chế ngự tố chất dân tộc, làm thức tỉnh bên trong ý thức nam tính soi rọi ánh sáng.
Chiến tranh thế giới đã lôi cuốn tất cả các chủng tộc và các khu vực của trái đất vào vòng quay máu me của nó, phải làm nảy sinh ý thức vững chắc về sự thống nhất của toàn nhân loại trong khổ đau xương máu. Văn hóa sẽ không còn là ngoại lệ của châu Âu, mà trở thành phổ quát, của thế giới. Và nước Nga, giữ vị trí trung gian giữa Đông và Tây, là Đông-Tây, có sứ mệnh đóng vai trò vĩ đại trong việc đưa nhân loại vào một khối thống nhất. Chiến tranh thế giới dẫn dắt chúng ta đến vấn đề chủ nghĩa cứu thế Nga một cách thực tiễn.
Ý thức cứu thế chủ nghĩa không phải là ý thức dân tộc chủ nghĩa; nó đối lập sâu sắc với chủ nghĩa dân tộc; đó là ý thức phổ quát. Ý thức cứu thế có nguồn gốc từ ý thức tôn giáo của dân tộc Do Thái, trong trải nghiệm của dân tộc Israel về sự đặc tuyển của Chúa và tính duy nhất của mình. ý thức cứu thế là ý thức của dân tộc được Chúa lựa chọn, của dân tộc trong đó Chúa Cứu thế nhất định sẽ xuất hiện và qua đó thế giới sẽ được giải cứu. Dân tộc được Chúa đặc tuyển là vị cứu thế giữa các dân tộc, dân tộc duy nhất có sứ mệnh và thiên chức cứu thế. Tất cả các dân tộc khác chỉ là các dân tộc thấp kém, không được lựa chọn, các dân tộc có số phận bình thường, không thần bí. Tất cả các dân tộc đều có sứ mệnh của mình, có nhiệm vụ của mình trong thế giới, nhưng chỉ có một dân tộc có thể được chọn cho mục đích cứu thế. Dân tộc có ý thức và nhiệm vụ cứu thế chỉ có một, giống như chỉ có một Đấng Cứu thế. Ý thức cứu thế là ý thức mang tính thế giới và siêu dân tộc. Ở đây có sự tương đồng với tư tưởng của đế chế La Mã, một đế chế cũng phổ quát và siêu dân tộc, giống như chủ nghĩa cứu thế Do Thái cổ. Ý thức cứu thế của người Do Thái mang tính toàn thế giới với những kỳ vọng của nó đã được biện minh bằng việc Đấng Cứu thế xuất hiện từ trong lòng dân tộc đó, dù rằng cũng bị chính dân tộc ấy chối bỏ. Nhưng, sau sự xuất hiện của Đức Ki tô, chủ nghĩa cứu thế với ý nghĩa Do Thái cổ đã trở nên không thể đối với thế giới Ki tô giáo. Đối với tín đồ Ki tô giáo thì không có tín đồ Hy Lạp, cũng như không có tín đồ Do Thái giáo. Không thể có trong thế giới Ki tô giáo một dân tộc được Chúa tuyển chọn. Đức Ki tô đến với tất cả các dân tộc và các dân tộc đều có số phận và vận mệnh của mình trước sự phán xử của ý thức Ki tô giáo. Đạo Ki tô, không cho phép một địa vị độc tôn dân tộc và lòng tự cao dân tộc, đã phê phán cái ý thức theo đó dân tộc của tôi cao hơn các dân tộc khác và là dân tộc sùng đạo duy nhất. Đạo Ki tô là sự khẳng định tối hậu tính thống nhất của nhân loại, khẳng định tinh thần toàn nhân loại và toàn thế giới. Và điều đó cũng được thế giới Công giáo ý thức đầy đủ, mặc dù có cố kết với những hiện tượng lịch sử-hiện thân tương đối (chế độ giáo hoàng). Ý thức cứu thế là ý thức tiên tri, dự cảm cứu thế là dự cảm tiên tri. Trong đó có vị mặn của đời sống tôn giáo, vị mặn đó được tiếp nhận từ dân tộc Do Thái. Ý thức cứu thế tiên tri đó không biến mất trong thế giới Ki tô giáo, nhưng nó biến hoá và cải dạng. Ngay trong thế giới Ki tô giáo có thể có chủ nghĩa cứu thế, có ý thức về sứ mệnh tôn giáo độc tôn của một dân tộc nào đó, có thể có niềm tin rằng thông qua dân tộc này tiếng nói của một mặc khải mới sẽ được phát ra cho thế giới. Nhưng chủ nghĩa cứu thế Ki tô giáo phải được thanh lọc khỏi bất kỳ sự đề cao và tự phụ dân tộc phi Ki tô giáo nào, khỏi một mặt là sự lặp lại con đường của chủ nghĩa cứu thế Do Thái cổ và mặt khác là chủ nghĩa dân tộc đặc quyền mới. Ý thức cứu thế Ki tô giáo không thể là việc khẳng định rằng chỉ một dân tộc Nga có sứ mệnh tôn giáo vĩ đại, rằng một mình nó là dân tộc Ki tô giáo, rằng một mình nó được đặc tuyển cho số phận và vận mệnh của Chúa Ki tô, còn tất cả các dân tộc còn lại là những dân tộc thấp kém, không phải Ki tô giáo và bị tước mất sứ mệnh tôn giáo. Trong thái độ tự phụ như thế chẳng có gì là của Chúa Ki tô cả. Cũng chẳng có gì của Chúa Ki tô trong điệp khúc vĩnh cửu của những kẻ Slavơ chủ nghĩa về sự mục nát của phương Tây và sự thiếu vắng ở đó đời sống Ki tô giáo. Sự Do Thái hóa Ki tô giáo như vậy đưa chúng ta từ Tân ước trở về Cựu ước. Chủ nghĩa Do Thái trong Ki tô giáo là mối hiểm hoạ rình rập mà chúng ta cần thanh lọc khỏi nó. Còn bất kỳ chủ nghĩa dân tộc tôn giáo tự tôn nào, bất kỳ sự tự phụ dân tộc tôn giáo nào cũng là chủ nghĩa Do Thái trong Ki tô giáo. Việc dân tộc hóa cực đoan nhà thờ cũng chính là chủ nghĩa Do Thái bên trong Ki tô giáo. Ngay trong Ki tô giáo Nga cũng có nhiều yếu tố Do Thái giáo, nhiều yếu tố Cựu ước.
Ý thức cứu thế Ki tô giáo chỉ có thể là ý thức rằng, trong thời đại đang tới của thế giới, nước Nga có sứ mệnh nói tiếng nói mới của mình với thế giới, cũng như thế giới La Tinh và thế giới Đức đã từng nói điều đó. Chủng tộc Slavơ, đứng đầu là nước Nga, phải bộc lộ những tiềm năng tinh thần của mình, thể hiện tinh thần tiên tri của mình. Chủng tộc Slavơ bước lên thay thế các chủng tộc khác đã đóng xong vai trò, đã có thiên hướng suy tàn; nó là chủng tộc của tương lai. Tất cả các dân tộc vĩ đại đều trải qua ý thức cứu thế. Điều đó rơi vào các giai đoạn cao trào tinh thần đặc biệt, khi các dân tộc đó được đòi hỏi thực hiện điều gì đó vĩ đại và mới mẻ cho thế giới, thông qua số phận lịch sử của mình. Ý thức cứu thế đó đã từng có ở nước Đức hồi đầu thế kỷ XIX. Còn bây giờ chúng ta có mặt ở giai đoạn cuối của chủ nghĩa cứu thế Đức, khi nó đã hoàn toàn cạn kiệt sức mạnh tinh thần của mình. Trong lịch sử thế giới Ki tô giáo không một dân tộc nào được Chúa đặc tuyển, nhưng các dân tộc khác nhau vào các thời gian khác nhau được lựa chọn cho sứ mệnh vĩ đại để phát lộ tinh thần. Ở nước Nga từ lâu đã nảy sinh dự cảm tiên tri rằng giờ khắc lịch sử sẽ đến, khi nó được huy động cho những phát lộ tinh thần vĩ đại, khi trung tâm của đời sống tinh thần thế giới sẽ thuộc về nó. Đó không phải là chủ nghĩa cứu thế Do Thái. Dự cảm tiên tri này không loại trừ sự tuyển lựa và sứ mệnh vĩ đại của các dân tộc khác; nó chỉ là việc tiếp tục và hoàn thành sự nghiệp mà tất cả các dân tộc trong thế giới Ki tô giáo đã tạo dựng. Ý thức cứu thế Nga đó có bị vẩn đục, bị cầm tù bởi tố chất dân tộc đa thần giáo và bị méo mó bởi các tàn tích của ý thức Do Thái giáo. Ý thức Nga cần được lọc sạch và giải phóng khỏi sự cầm tù đa thần giáo và Do Thái giáo ấy. Mà điều đó có nghĩa là tư duy dân tộc Nga và cuộc sống Nga cần được giải phóng triệt để khỏi những khía cạnh vô sinh khí và gây tê liệt của chủ nghĩa Slavơ, không chỉ về mặt chính thống, mà cả về mặt dân tộc. Trong chủ nghĩa Slavơ có chân lý của mình, chân lý đó luôn luôn được đặt đối lập rất đúng với óc sùng bái phương Tây. Nó sẽ được lưu giữ lại. Nhưng còn nhiều điều hư trá và giả hiệu, nhiều sự lệ thuộc vào đời sống vật chất, nhiều “sự lừa dối để đề cao” và sự lý tưởng hóa kìm hãm đời sống tinh thần.
Nước Nga không thể xác định mình là phương Đông, và đối lập mình với phương Tây. Nước Nga cần ý thức mình cũng là phương Tây, một phương Tây của phương Đông, người liên kết hai thế giới, chứ không phải người chia rẽ. Vl. Soloviev đã đoạn tuyệt về mặt tinh thần với chủ nghĩa Slavơ cũ, với chủ nghĩa dân tộc giả hiệu và chủ nghĩa phương Đông độc tôn của nó. Và sau sự nghiệp của Vl. Soloviev, tinh thần phổ quát Ki tô giáo phải được coi là khẳng định cuối cùng của ý thức. Mọi chủ nghĩa phân lập về thực chất không phải là bản chất của đạo Ki tô. Sự thống trị độc tôn của tố chất phương Đông ở Nga luôn luôn là nô lệ cho yếu tố tự nhiên nữ tính và kết thúc bằng vương quốc của hỗn loạn, khi thì phản động, khi thì cách mạng [1]. Nước Nga, như một phương Đông tự khẳng định mình, một nước Nga tự mãn dân tộc và độc tôn - đã bao hàm sự không phát lộ, không khai mở được yếu tố nam tính, yếu tố ngã thể và nhân loại, thể hiện sự lệ thuộc vào yếu tố tự nhiên tự phát, yếu tố huyết thống dân tộc, truyền thống phong tục. Trong ý thức tôn giáo điều đó có nghĩa là sự tuyệt đối hóa và thần thánh hóa cái thể xác tương đối, sự thoả mãn với hơi ấm sinh vật của huyết thống dân tộc. Ở đây ẩn chứa sự cám dỗ vĩnh cửu và mối hiểm hoạ vĩ đại cho nước Nga. Nữ tính của những người Slavơ khiến cho họ nhạy cảm đến thần bí, có khả năng lắng nghe những tiếng nói nội tâm. Nhưng sự thống trị độc tôn của tố chất nữ cản trở họ hoàn thành sứ mệnh của mình trong thế giới. Chủ nghĩa cứu thế Nga cần một tinh thần nam nhi,- thiếu điều đó thì mãi mãi nó vẫn bị sa vào bản tính nguyên thuỷ lệ thuộc và kìm hãm đó của mảnh đất Nga đang chờ đợi được tỏa sáng và lập dựng. Nhưng sự cáo chung của chủ nghĩa Slavơ cũng là sự cáo chung của cả chủ nghĩa phương Tây, sự cáo chung của chính sự đối lập phương Đông và phương Tây. Ngay trong chủ nghĩa phương Tây cũng có tính phân lập và chủ nghĩa địa phương, và không có tinh thần thế giới. Chủ nghĩa phương Tây thể hiện thái độ thiếu lành mạnh và thiếu dũng khí nào đó đối với phương Tây, sự mất tự do nào đó và sự bất lực muốn cảm thấy mình là sức mạnh hữu hiệu cả đối với chính phương Tây. Tinh thần tự ý thức Nga không thể mang tính Slavơ chủ nghĩa, cũng như không thể mang tính phương Tây chủ nghĩa, bởi vì cả hai hình thức đó đều bao hàm sự chưa trưởng thành của dân tộc Nga, sự chưa chín muồi của nó đối với đời sống thế giới, với vai trò thế giới. Tại phương Tây không thể có chủ nghĩa Tây phương, ở đó không thể có mơ ước ấy về phương Tây, như một trạng thái tối cao nào đó. Trạng thái tối cao không phải là phương Tây, cũng như không phải phương Đông; nó không bị giới hạn bởi bất cứ thứ gì thuộc về địa lý hay vật chất. Chiến tranh thế giới phải khắc phục sự tồn tại của nước Nga, như một phương Đông ngoại biệt, và sự tồn tại của châu Âu, như một phương Tây ngoại biệt. Nhân loại sẽ bước ra khỏi những giới hạn ấy. Nước Nga sẽ bước vào đời sống thế giới với sức mạnh quyết định. Nhưng vai trò thế giới của nước Nga đòi hỏi phải đánh thức trong nó tính tích cực sáng tạo của con người, vượt ra khỏi trạng thái thụ động và hoà tan. Ngay trong Dostoievski, con người luôn luôn lưỡng phân, đã có sự tiên tri về mặc khải của con người, một nhận thức nhân học sâu sắc phi thường. Chủ nghĩa cứu thế Nga đích thực đòi hỏi giải phóng đời sống tôn giáo, đời sống tinh thần khỏi sự nô dịch một chiều vào các yếu tố dân tộc và nhà nước, khỏi bất kỳ sự cùm xích nào vào đời sống vật chất. Nước Nga phải trải qua công cuộc giải phóng tôn giáo cá nhân. Chủ nghĩa cứu thế Nga trước hết dựa trên tính phiêu lãng, tính tha phương và tìm kiếm, dựa trên tính nổi loạn Nga và sự không nguôi ngoai tinh thần, dựa trên nước Nga tiên tri, trên những người Nga không có thành quốc của mình, những người đang tìm kiếm thành quốc tương lai. Chủ nghĩa cứu thế Nga không thể gắn với nước Nga đời thường, trì trệ, thủ cựu, với nước Nga nặng nề trong dòng máu dân tộc, với nước Nga gìn giữ lòng tin vào nghi lễ, với những người Nga thoả mãn với thành quốc của mình, thành quốc đa thần giáo, và sợ hãi thành quốc tương lai.
Tất cả sự độc đáo của thần bí học Slavơ và Nga là nằm trong sự tìm kiếm thành quốc của Chúa, thành quốc của tương lai, trong việc chờ đợi sự giáng thế của Jerusalem Thiên đường, trong khát vọng cứu rỗi tất cả và vì hạnh phúc của mọi người, trong tâm trạng khải huyền. Những chờ đợi khải huyền, tiên tri ấy đối lập với cảm giác rằng người Nga đã có thành quốc của mình, và thành quốc đó là “nước Nga thánh thiện”. Mà trong cảm giác đời thường và thoả mãn này ở mức độ đáng kể đã tạo nên cốt lõi cho chủ nghĩa Slavơ, cũng như toàn bộ hệ tư tưởng dân tộc-tôn giáo cánh hữu của chúng ta. Tôn giáo tế lễ,- muốn gìn giữ những gì đã có, xung đột trong tinh thần Nga với tôn giáo tiên tri, - muốn tìm kiếm chân lý tương lai. Đây là một trong những mâu thuẫn gốc rễ của nước Nga. Và nếu có thể dẫn ra nhiều chứng cớ bảo vệ luận điểm rằng nước Nga là đất nước chủ yếu bảo tồn thánh địa tôn giáo và sứ mệnh tôn giáo của nó là nằm ở đó, thì cũng có thể dẫn ra không ít hơn chứng cớ để bảo vệ cái phản luận đề rằng nước Nga phần nhiều là đất nước kiềm hóa tôn giáo, đất nước của khao khát tinh thần, của những linh cảm và chờ đợi tiên tri. Tính trái nghịch tôn giáo đó của nước Nga được thể hiện qua Dostoievski. Ông có hai bộ mặt: một bộ mặt hướng về sự bảo lưu, sự câu nệ đời sống tôn giáo-dân tộc, được mạo xưng là đời sống đích thực,- là hình ảnh của no đủ tinh thần, còn bộ mặt kia – tiên tri, hướng tới thành quốc tương lai, - hình ảnh của đói khát tinh thần. Mối mâu thuẫn và đối kháng giữa no đủ tinh thần và đói khát tinh thần là mâu thuẫn chủ yếu của nước Nga, và từ đó giải thích được nhiều mâu thuẫn khác. Sự no đủ tinh thần khiến nó thụ động quay về với tố chất dân tộc nữ tính. Đó không phải là sự no nê món ăn Thần thánh nữa, đó vẫn còn là sự no nê tự nhiên. Sự đói khát tinh thần, không thoả mãn dưỡng chất dân tộc tự nhiên, là dấu hiệu giải phóng của yếu tố nam tính trong cá nhân. Chính mối mâu thuẫn đó, mà chúng ta đã thấy trong thiên tài dân tộc Dostoievski, chúng ta cũng thấy cả trong đời sống dân tộc Nga, trong đó luôn luôn nổi rõ hai bộ mặt. Sự no đủ tinh thần, sự bảo tồn cái cũ, cách hiểu đời thường và nghi thức bề ngoài đạo Ki tô – là một bộ mặt của đời sống tôn giáo dân tộc. Sự đói khát tinh thần, những linh cảm tiên tri, sự thâm trầm thần bí trên thượng tầng của Chính giáo ở một số giáo phái ly khai và phân liệt của chúng ta, trong chủ nghĩa phiêu lãng – là bộ mặt khác của đời sống tôn giáo dân tộc. Phép thần bí Nga, chủ nghĩa cứu thế Nga gắn liền với bộ mặt thứ hai của nước Nga, với sự đói khát tinh thần của nó và với khát vọng tìm ra chân lý thiêng liêng trên mặt đất cũng như trên nước Trời. Tâm trạng khải huyền làm cho phép thần bí Nga khác biệt sâu sắc với thần bí học Đức, nền thần bí học ấy chỉ là sự chìm đắm sâu vào trong tinh thần và chưa bao giờ là khát vọng hướng tới thành quốc của Chúa, tới kết thúc, tới cải hóa thế giới. Nhưng tâm trạng khải huyền Nga có thiên hướng mạnh mẽ của thụ động, của chờ đợi, của nữ tính. ở đây thể hiện đặc điểm đặc trưng của tinh thần Nga. Tâm hồn tiên tri Nga cảm thấy trong mình những dòng mạch thần bí xuyên suốt. Trong đời sống nhân dân điều đó nằm dưới dạng nỗi sợ hãi vì chờ đợi sự xuất hiện của kẻ phản Chúa. Gần đây những cảm xúc tôn giáo đích thực dân tộc thấm sâu cả vào các trào lưu văn hóa triết học-tôn giáo của chúng ta, nhưng đã ở dưới dạng phản chiếu và phần nào cách điệu hóa, nhân tạo hóa. Thậm chí đã hình thành một sự sùng bái thẩm mỹ các nỗi sợ hãi và kinh hoàng tôn giáo, như dấu hiệu chính xác của tâm trạng thần bí. Và ở đây lại thiếu vắng cái tinh thần nam tính, tích cực và sáng tạo đó, thứ cần thiết hơn bao giờ hết đối với nước Nga để hoàn thành nhiệm vụ thế giới mà nó mang sứ mệnh. Nước Nga tiên tri phải chuyển từ chờ đợi sang sáng tạo, từ sự sợ hãi khủng khiếp sang táo bạo tinh thần. Rất hiển nhiên là nước Nga không phải được dành cho sự no ấm, đầy đủ thể xác và tinh thần, cho việc củng cố hình hài cũ của thế giới. Nó không có năng khiếu tạo dựng một nền văn hoá trung bình, và với điều đó nó thực sự khác rất xa với các nước phương Tây, khác không phải bởi sự chậm tiến của mình, mà bởi tinh thần của mình.
Ở đây là bí mật của tinh thần Nga. Tinh thần ấy khát khao vươn tới cái tận cùng và tối hậu, cái tuyệt đối trong mọi sự; tới tự do tuyệt đối và tình yêu tuyệt đối. Nhưng trong quá trình lịch sử tự nhiên cái tương đối và trung bình lại ngự trị. Và vì thế nỗi khát khao tự do tuyệt đối Nga trên thực tế thường dẫn tới sự nô lệ trong cái tương đối và trung bình, và khát vọng tình yêu tuyệt đối Nga lại trở thành sự thù địch và căm ghét [2]. Đối với người Nga đặc trưng là một sự bất lực nào đó, sự thiếu năng lực nào đó trong mọi sự có tính tương đối và trung bình. Mà toàn bộ lịch sử văn hóa và xã hội nói chung là ở trạng thái tương đối và trung bình; nó không tuyệt đối và không kết thúc. Vì Vương quốc của Chúa Trời là vương quốc của cái tuyệt đối và kết thúc, cho nên người Nga dễ cống nạp tất cả những gì tương đối và trung bình cho quyền lực của vương quốc quỷ dữ. Đặc điểm đó rất dân tộc Nga. Người Nga khó đạt được cho mình tự do xã hội tương đối không chỉ vì trong bản tính Nga có tính thụ động và kìm nén, mà còn bởi tinh thần Nga luôn khát khao tự do tuyệt đối Thánh thần. Chính vì thế người Nga khó mà tạo dựng một nền văn hóa tương đối, cái nền văn hóa luôn là sự nghiệp gần cuối cùng, chứ chưa phải là cuối cùng. Người Nga thường xuyên bị nô lệ cho cái trung bình và tương đối, và biện hộ về điều đó rằng trong cái tối hậu và tuyệt đối họ hoàn toàn tự do. Tại đây ẩn giấu một trong các động cơ sâu xa nhất của chủ nghĩa Slavơ. Những người Slavơ chủ nghĩa muốn để lại cho dân tộc Nga sự tự do của lương tâm tôn giáo, tự do suy nghĩ, tự do tinh thần, còn toàn bộ đời sống còn lại thì cống hiến cho quyền lực của thứ sức mạnh chi phối dân tộc Nga vô hạn độ. Dostoievski trong truyền thuyết về “Vị quan toà giáo hội Vĩ đại” đã tuyên truyền một sự tự do tinh thần chưa từng thấy, một tự do tôn giáo tuyệt đối trong Chúa Ki tô. Nhưng chính Dostoievski cũng sẵn sàng không chỉ nhẫn nhịn cam chịu, mà còn bảo vệ sự nô lệ xã hội. Theo một cách khác, nhưng vẫn cái đặc điểm Nga đó thể hiện cả ở những nhà cách mạng tối đa chủ nghĩa của chúng ta, những người đòi hỏi sự tuyệt đối trong bất kỳ xã hội tương đối nào và không có khả năng tạo dựng xã hội tự do. Tại đây chúng ta từ một hướng mới tiến đến những mâu thuẫn cơ bản của nước Nga. Đó vẫn là tình trạng tách rời giữa yếu tố nam tính và nữ tính đó trong sâu thẳm của tố chất Nga và tinh thần Nga. Tinh thần Nga, luôn khao khát cái tuyệt đối trong mọi sự, không làm chủ được môi trường nam tính của cái tương đối và trung bình, và ngả theo quyền lực của các thế lực bên ngoài. Trong thứ văn hoá trung bình như vậy nó luôn sẵn sàng tuân theo quyền lực của chủ nghĩa Đức quốc, của triết học và khoa học Đức. Điều đó cũng xảy ra trong lĩnh vực nhà nước, thực chất là trung bình và tương đối. Tinh thần Nga mong muốn một nhà nước thánh thiện trong tính tuyệt đối, lại sẵn sàng dung hòa với một nhà nước dã thú trong sự tương đối. Nó ước muốn sự thánh thiện trong cuộc sống tuyệt đối và chỉ có sự thánh thiện quyến rũ nó, nhưng nó lại sẵn sàng sống chung với bẩn thỉu và thấp kém trong cuộc sống tương đối. Vì thế nước Nga thánh thiện luôn luôn có mặt trái của mình là nước Nga dã man. Nước Nga dường như luôn luôn chỉ muốn cái tuyệt trần hoặc tàn bạo, và chưa phát lộ hết trong mình chất con người. Tính thánh thiện tuyệt trần và sự thấp kém dã thú - đó là những dao động vĩnh cửu của dân tộc Nga mà những dân tộc phương Tây trung bình hơn không biết đến. Con người Nga say mê chất thánh thiện, nhưng nó cũng say mê tội lỗi, sự thấp hèn. Tính tội lỗi khiêm nhường, không dám vươn quá cao, thật đặc trưng cho tính tôn giáo Nga. Ở đây toát lên cảm giác sung sướng được đắm chìm trong máu thịt ấm áp của dân tộc, trong môi trường đất đai dưới thấp. Và thế là chính chất tiên tri, chất cứu thế trong tinh thần Nga, cái khát khao của nó vươn tới tính tuyệt đối, khát khao cải cách lại biến thành một sự nô lệ nào đó.
Còn tiếp
Phần 1
Chú thích:
[1] Trong cách mạng Nga chúng ta cũng nhìn thấy sự thống trị của yếu tố đặc biệt phương Đông, khước từ các chuẩn mực văn minh hoá và mở đường cho sự hỗn loạn.
[2] Cách mạng Nga đã chứng tỏ một cách thực tiễn tất cả mối nguy hiểm của chủ nghĩa tuyệt đối Nga.
|