|
Nước Nga (2)
Thái độ của Dostoievski đối với châu Âu thật đáng ngạc nhiên. Trong thái độ này đặc biệt thú vị là những lời của Versilov, qua đó Dostoievski đưa vào những suy nghĩ âu yếm nhất của mình về châu Âu. Ông đặt vào miệng Versilov nhiều ý nghĩ của mình.
Con người Nga là con người nhân loại và người tự do nhất trên thế giới. “Họ (những người châu Âu) - không tự do, còn chúng ta tự do. Chỉ mình tôi ở châu Âu với nỗi buồn Nga của mình khi đó được tự do... Bất kỳ người Pháp nào cũng có thể phục vụ không chỉ nước Pháp của mình, mà thậm chí cả toàn nhân loại, chỉ duy nhất với điều kiện anh ta trở nên người Pháp hơn cả, cũng như đối với người Anh, người Đức. Chỉ có người Nga, thậm chí vào thời đại chúng ta, có nghĩa là còn sớm hơn rất nhiều, trước khi có sự tổng kết chung, là có được khả năng trở nên người Nga hơn bao giờ hết, chính vào lúc anh ta là người châu Âu nhất. Đó chính là khác biệt dân tộc căn bản nhất của chúng ta với tất cả, và về mặt này không có nước nào như chúng ta. Ở nước Pháp - tôi là người Pháp, với người Đức - tôi là người Đức, với người Hy Lạp cổ đại - tôi là người Hy Lạp, và như thế tôi là người Nga hơn cả, như thế, tôi là người Nga đích thực và phụng sự cao nhất cho nước Nga, bởi vì tôi phô bày tư tưởng chủ yếu của nó”. “Đối với người Nga, châu Âu cũng quý giá như là nước Nga: mỗi viên đá ở đó đáng yêu và thân thiết. Châu Âu cũng là Tổ quốc của chúng ta như nước Nga. Ôi, còn hơn thế. Không thể yêu nước Nga hơn là tôi yêu nó, nhưng tôi không bao giờ quở trách mình về việc Vơnidơ, Rôma, Pari, những kho báu khoa học và nghệ thuật của chúng, toàn bộ lịch sử của chúng - lại đáng yêu với tôi hơn là nước Nga. Ôi, đối với người Nga thật quý giá những viên đá xa lạ, cổ kính ấy, những điều kỳ diệu của thế giới cũ của Chúa ấy, những mảnh vỡ của các kỳ quan thiêng liêng ấy; và thậm chí điều đó đối với chúng ta quý báu hơn là đối với chính bản thân họ... Một mình nước Nga sống không phải chỉ cho mình, mà cho tư tưởng, và một sự thật trọng đại là: như thế đã gần một thế kỷ nước Nga tuyệt nhiên không sống cho mình, mà chỉ sống cho châu Âu”. Những lời như thế không một người theo chủ nghĩa Slavơ nào có thể nói ra được. Mô-tip đó được lặp lại cả ở Ivan Karamazov. “Tôi muốn đến châu Âu; và quả là tôi biết mình chỉ đến một nghĩa địa, nhưng là nghĩa địa yêu quý nhất. Ở đó những người đã khuất yêu dấu đang yên nghỉ, mỗi phiến đá đứng bên họ sẽ kể về cuộc đời đã trôi qua thật nồng cháy, về niềm tin thật nhiệt thành vào chiến công của mình, vào chân lý của mình, vào cuộc đấu tranh và vào khoa học của mình, và tôi, đã biết từ trước, sẽ sụp xuống đất và hôn lên những phiến đá ấy và khóc với chúng – trong khi tin tưởng bằng cả trái tim rằng tất cả những thứ đó từ lâu đã là nghĩa địa và không thể nào khác được”. Điều đó cũng lặp lại trong “Nhật ký nhà văn”: “Châu Âu - quả đó là một vật thiêng liêng và khủng khiếp, châu Âu. Ôi, các ngài có biết chăng, chính cái châu Âu, đất nước của “những kỳ quan thiêng liêng” ấy, quý giá đến thế nào đối với chúng tôi, những người theo chủ nghĩa Slavơ mơ mộng, mà theo các ngài là những kẻ căm ghét châu Âu. Các ngài có biết “những kỳ quan” ấy đối với chúng tôi thân thiết đến thế nào không, và chúng tôi yêu và tôn kính đến nhường nào, yêu và tôn kính hơn là anh em mình những chủng tộc vĩ đại sống ở trên đó, và tất cả những gì vĩ đại, vừa vĩ đại vừa tuyệt vời, mà họ đã làm nên. Các ngài có biết số phận của đất nước yêu quý và thân thuộc với chúng tôi ấy đã dằn vặt và làm chúng tôi xúc động đến rơi lệ và co thắt con tim đến thế nào không, những đám mây đen u ám ngày càng che khuất chân trời của nó kia đã làm chúng tôi lo sợ đến thế nào không? Không bao giờ các ngài, những người châu Âu và những người phương Tây, lại yêu châu Âu đến thế như chúng tôi, những kẻ theo chủ nghĩa Slavơ mộng mơ, mà theo các ngài là những kẻ thù truyền kiếp của nó”. Không một người Slavơ chủ nghĩa hay phương Tây chủ nghĩa nào lại phát biểu được như thế. Chỉ một mình K. Leonchev, người không theo chủ nghĩa Slavơ, cũng không theo chủ nghĩa phương Tây, mới có thể nói những lời như vậy về quá khứ của châu Âu. Những nhà tư tưởng tôn giáo Nga kiểu Dostoievski và K. Leonchev không phủ nhận nền văn hóa vĩ đại của Tây Âu. Họ tôn thờ nền văn hóa đó hơn cả những người châu Âu đương thời. Họ phủ nhận nền văn minh châu Âu hiện đại, tinh thần “tư sản”, thị dân của nó, vạch trần trong nó sự phản bội những truyền thống vĩ đại và di huấn quá khứ của văn hóa châu Âu.
Sự đối lập giữa nước Nga và châu Âu đối với nhiều nhà văn và nhà tư tưởng Nga chỉ là sự đối lập của hai tinh thần, hai kiểu văn hóa, chỉ là hình thức đấu tranh tinh thần với xu thế văn minh hiện đại đang khiến tinh thần lụi tàn. Chủ nghĩa Slavơ, chủ nghĩa phương Đông là một kiểu lệch lạc của ý thức. Hai tinh thần đấu tranh với nhau trong thế giới và tinh thần của văn minh tư sản bắt đầu chiến thắng do sự phản bội các cơ sở Ki tô giáo của văn hóa. Tinh thần duy vật chi phối tinh thần tôn giáo, sự gông xiềng vào các lợi ích trần thế che phủ hết nước trời. Xu hướng thế giới của văn minh hiện đại là thế. Lần đầu tiên nó được phát hiện rõ ràng trong các dân tộc châu Âu. Sự “lạc hậu” của chúng ta đã cứu chúng ta. Và thế là xuất hiện sự cám dỗ nghĩ rằng xu hướng văn minh hiện đại này của thế giới không có quyền lực đối với nước Nga và dân tộc Nga, rằng chúng ta thuộc về tinh thần khác, rằng đó chỉ là hiện tượng của châu Âu, của các dân tộc châu Âu. Các khuynh hướng tôn giáo của tư tưởng Nga, của văn học Nga đã được tô vẽ trong màu sắc của chủ nghĩa Slavơ, chủ nghĩa phương Đông. Đó là màu sắc tự vệ. Nước Đức vào đầu thế kỷ XIX, vào thời kỳ cao trào sáng tạo vĩ đại của chủ nghĩa duy tâm Đức và phong trào lãng mạn chủ nghĩa, đã trải qua tâm trạng tương tự và ý thức tự ngã tương tự. Tinh thần duy tâm, tâm trạng lãng mạn chủ nghĩa, sự ưu thắng của các nhu cầu tinh thần tối cao đã được khẳng định, như tinh thần Đức, tâm trạng Đức, các nhu cầu của nước Đức, đối lập với xu hướng phi tinh thần của “phương Tây”, của Pháp và Anh. Điều đó song hành với sự phát triển cực kỳ mạnh mẽ và căng thẳng của ý thức cứu thế Đức. Nhưng sau đó nước Đức đi theo con đường duy vật hóa và phản bội những di huấn tinh thần cao nhất của mình. Cuộc đấu tranh giữa hai tinh thần, hai kiểu văn hóa tôn giáo và phi tôn giáo của văn minh luôn luôn là cuộc đấu tranh nội tại của bản thân Tây Âu, nó được tiến hành trên mảnh đất châu Âu. Những người theo chủ nghĩa lãng mạn Pháp, những người theo chủ nghĩa tượng trưng Pháp, những người Công giáo Pháp thế kỷ XIX như Barbey d’Aurevilly, Villiers de l’Isle-Adam, Huismans, L. Bloy, bằng toàn bộ con người mình và bằng cả số phận cuộc sống khổ ải của mình, đã chống lại tinh thần thống trị của thế kỷ, nghĩa là nền văn minh Pháp và châu Âu thế kỷ XIX, nền văn minh ấy làm tổn thương họ không kém các nhà Slavơ chủ nghĩa, Dostoievski, K. Leonchev. Và họ hướng về thời Trung cổ, như về Tổ quốc tinh thần của mình. Toàn bộ hiện tượng Nietzsche với mơ ước nhiệt thành của ông về nền văn hóa Dionisos, nền văn hóa bi kịch, là sự phản ứng nồng nhiệt và bệnh hoạn chống tinh thần văn minh phương Tây đang thắng thế. Đề tài đó là đề tài mang tính thế giới và nó khó mà được hiểu, như đề tài sự đối lập giữa nước Nga và châu Âu, giữa phương Đông và phương Tây. Đó là đề tài về sự đối lập của hai tinh thần, hai kiểu văn hóa ở bên trong cả châu Âu lẫn nước Nga, cả ở phương Tây cũng như phương Đông. Trong đề tài này, những người Nga đặc tuyển, các nhà tư tưởng và nhà văn vĩ đại nhất và độc đáo nhất của chúng ta, đã được ban cho một điều gì đó để cảm nhận sâu sắc hơn những người phương Tây, những người mang tính cách gắn bó hơn với lịch sử văn hóa của mình. Thậm chí Herzen ở đây cũng cảm thấy điều gì đó sắc sảo hơn là những người châu Âu những năm 40 cảm nhận. Nhưng từ đây cũng không thể đưa ra kết luận, rằng ở nước Nga cái xu thế thế giới của văn minh hiện đại đó, cái tinh thần phi tôn giáo đó là không thể thắng thế, rằng tinh thần ở nước ta sẽ không bị suy thoái. Những người macxit đã đến nước Nga và đã đạt thành quả. Và ở nước Nga diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai tinh thần, hai kiểu văn hóa, hay chính xác hơn - giữa tinh thần với sự suy sút và lụi tàn của tinh thần, giữa văn hóa chân chính với văn minh. Và ở nước Nga có thể không phải tinh thần, không phải văn hóa sẽ thống trị. Tôi không chỉ xích gần, mà còn đồng nhất tinh thần với văn hóa, bởi vì văn hóa luôn là tinh thần trong bản chất của mình, chỉ có văn minh mới không là tinh thần, văn hóa luôn luôn gắn liền với truyền thống thiêng liêng, với việc tôn thờ tổ tiên. Dostoievski cảm nhận tốt hơn tất cả, sâu sắc hơn tất cả tính hai mặt của tương lai, sự lớn mạnh trong đó tinh thần phản Ki tô. Ông phát hiện sự chuyển biến tinh thần đó ở nước Nga, trước hết là ở nước Nga. Còn K. Leonchev vào giai đoạn cuối của cuộc đời đã thất vọng về việc nước Nga sẽ còn phát lộ một kiểu văn hóa hoàng kim mới, đối lập với nền văn minh châu Âu suy đồi, giống những nền văn hóa huy hoàng đã từng có của châu Âu. Ông đi đến tuyệt vọng, khi nhìn thấy ở Nga sự chiến thắng của quá trình cào bằng thế giới mà ông thù ghét, và ông đã nói những lời khủng khiếp, rằng nước Nga, có lẽ, được tiền định cho một sứ mệnh tôn giáo duy nhất - sinh ra từ trong lòng nó kẻ phản Chúa. Như vậy ở nước ta tư tưởng của chủ nghĩa dân túy tôn giáo đã tự phân hóa, nó bị bước tiến của lịch sử Nga giáng cho những đòn chí mạng. Và số phận của tư tưởng cứu thế Nga trở thành bi kịch.
*
* *
"Bất kỳ dân tộc vĩ đại nào cũng phải tin tưởng, nếu như nó muốn trường tồn, rằng trong nó và chỉ trong nó mà thôi chứa đựng sự cứu rỗi thế giới, rằng nó sống chỉ để đứng đầu các dân tộc, tập hợp tất cả họ làm một khối về với mình và dẫn dắt họ trong dàn đồng ca thống nhất đến mục đích cuối cùng được tiền định cho tất cả họ". Dostoievski đã trình bày trong "Nhật ký nhà văn" khát vọng của mình về ý thức cứu thế dân tộc như vậy. Trong ý thức cứu thế đó thoạt đầu không có tính độc tôn dân tộc, không có chủ nghĩa phân lập dân tộc. Ý thức cứu thế dân tộc là ý thức phổ quát, toàn nhân loại. Dân tộc cứu thế được đòi hỏi phục vụ sự nghiệp cứu vớt tất cả các dân tộc, cứu vớt toàn thể thế giới. Và nhiệm vụ cứu vớt nhân loại đó Dostoievski đặt trước dân tộc Nga, dân tộc mang danh Chúa. Chủ nghĩa cứu thế không phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa cứu thế có kỳ vọng vô cùng lớn hơn, so với chủ nghĩa dân tộc. Nhưng trong nó không có sự tự khẳng định độc tôn dân tộc. Những người theo chủ nghĩa Slavơ ở mức độ đáng kể là những nhà dân tộc chủ nghĩa xét về mặt ý thức. Họ tin rằng dân tộc Nga là một kiểu văn hóa Ki tô giáo cao cấp nhất. Nhưng họ không có kỳ vọng vào việc dân tộc Nga cần phải cứu vớt tất cả các dân tộc và toàn thế giới, phát hiện chân lý của toàn nhân loại. Trong thiên tài toàn diện Puskin, Dostoievski phát hiện ra tính toàn nhân loại của tinh thần dân tộc Nga. Ông kinh ngạc thấy trong Puskin "khả năng cộng hưởng với toàn thế giới và sự hóa thân đầy đủ nhất, gần như toàn bích thành thiên tài, của các dân tộc xa lạ". "Khả năng đó là khả năng trọn vẹn Nga, khả năng của cả dân tộc, và Puskin chỉ chia xẻ nó với toàn thể dân tộc mình". Đối lập với các nhà Slavơ chủ nghĩa, Dostoievski cho rằng "khao khát của chúng ta hướng tới châu Âu cùng tất cả những say mê và cực đoan của nó, không chỉ hợp pháp và có lý trí trên cơ sở của nó, mà còn mang tính dân tộc, hoàn toàn trùng hợp với khao khát của chính tinh thần dân tộc, và cuối cùng, hiển nhiên là có mục đích cao cả nhất". "Tâm hồn Nga, thiên tài của dân tộc Nga, có lẽ, là người có khả năng nhất trong tất cả các dân tộc hàm chứa trong mình tư tưởng hợp nhất toàn nhân loại, tư tưởng tình yêu huynh đệ". Dostoievski với sự nhạy cảm thiên tài đã phát hiện ra, rằng tính phiêu lãng nổi loạn và bất yên Nga, sự phiêu du tinh thần của chúng ta, là hiện tượng dân tộc sâu sắc, hiện tượng của tinh thần dân tộc Nga. "Trong Aleko Puskin đã tìm kiếm và nhận ra một cách tài tình kẻ phiêu bạt bất hạnh ngay trên đất nước quê hương, kẻ phiêu bạt lịch sử Nga". Toàn bộ sáng tác của Dostoievski dành cho số phận tiếp theo của kẻ phiêu bạt này. Ông quan tâm đến y hơn hết. Những người bám chặt lấy đất mẹ, bắt rễ vào lòng đất, những người có đời sống vững chắc không làm Dostoievski quan tâm. "Kẻ phiêu lãng Nga cần chính là cái hạnh phúc toàn nhân loại, lúc đó nó mới an lòng: anh ta không cam chịu với cái ít hơn". Như vậy trong kẻ phiêu lãng Nga, trong chủ nghĩa vong bản Nga đã phát lộ tinh thần toàn nhân loại của dân tộc Nga. Cả ở đây các suy nghĩ của Dostoievski cũng trái nghịch, và sự trái nghịch đó được sinh ra từ chất năng động của tư duy không muốn biết đến bất kỳ điều gì tĩnh tại và cố định. Người phiêu lãng Nga bứt ra khỏi mảnh đất dân tộc. ở đây chứa đựng tội lỗi của anh ta và sự vô sinh của đời sống sáng tạo của anh ta. Nhưng kẻ phiêu bạt Nga, mà Dostoievski coi là sản phẩm của tầng lớp quý tộc Nga, và khinh thị gọi là "gentilhomme russe et citoyen du monde",- là hiện tượng sâu sắc Nga và chỉ gặp ở Nga, là một trong những hiện tượng của tinh thần dân tộc chúng ta. Tư duy Slavơ chủ nghĩa bằng phẳng hơn không thể có những suy nghĩ trái nghịch như thế về "kẻ phiêu lãng Nga". Dostoievski yêu kẻ phiêu lãng Nga và quan tâm ghê gớm đến số phận của y. Ông coi "giới trí thức" Nga, bị tách rời khỏi "nhân dân", là hiện tượng dân tộc. Hiểu được thái độ đó là rất quan trọng đối với thế giới quan của Dostoievski. Vì thế chủ nghĩa dân túy tôn giáo của Dostoievski là sự kết hợp rất phức tạp giữa các suy nghĩ trái nghịch nhau. Ông kêu gọi sùng bái trước "chân lý của nhân dân", tìm kiếm "chân lý của nhân dân và chân lý trong nhân dân". Dưới khái niệm "nhân dân" ông hiểu lúc thì là một cơ cấu thần bí, là linh hồn của dân tộc, như một chỉnh thể vĩ đại và bí ẩn, lúc thì thiên về nhân dân "lao động", những người mu-gích. Ở đây thể hiện sự không rõ ràng thông thường và sự lúng túng trong ý thức dân tộc của chúng ta. Nhưng quả thật cũng có thể hiểu nhiệm vụ của kẻ lãng du Nga theo cách khác. Anh ta có thể phát hiện và ý thức được trong chiều sâu của bản thân mình bản tính dân tộc, và trở thành dân tộc vì đã phát hiện ra chiều sâu đó. Bởi vì chiều sâu của mỗi con người Nga là chiều sâu của dân tộc. "Tính nhân dân" không phải ở ngoài tôi, không phải trong người nông dân, mà ở trong tôi, trong tầng sâu thẳm của tồn tại bản thân tôi, trong đó tôi đã không còn là "đơn tử" biệt lập. Đó sẽ là thái độ duy nhất đúng đối với "nhân dân" và "tính nhân dân", thái độ nội tại. Tôi không phải là "nhân dân", tách khỏi "nhân dân”, bởi vì tôi sống trên bề mặt, chứ không phải trong lòng sâu. Và để trở thành "nhân dân" tôi không cần là bất kỳ người nông dân nào, bất kỳ người dân thường nào, tôi chỉ cần hướng về sâu thẳm của lòng mình. Điều đó cũng chính xác cả đối với ý thức giáo hội. "Chân lý nhân dân", được phát hiện trong sâu thẳm, là cái gì? Dostoievski không vay mượn nó ở những người nông dân, ở những người dân đen mà nó vốn xa lạ với họ về mặt kinh nghiệm, nó phát lộ trong sâu thẳm tinh thần ông. Dostoievski chính là "nhân dân", nhân dân hơn tất cả tầng lớp nông dân Nga. "Nhiệm vụ của con người Nga hiển nhiên là nhiệm vụ mang tính toàn châu Âu và toàn thế giới. Trở thành một người Nga chân chính, trở thành con người hoàn toàn Nga, có lẽ cũng có nghĩa là chỉ có thể trở thành người anh em của tất cả mọi người, thành con người nhân loại. Ôi, tất cả những chủ nghĩa Slavơ và chủ nghĩa phương Tây kia của chúng ta chỉ là sự ngộ nhận vĩ đại của chúng ta, mặc dù về mặt lịch sử nó cũng cần thiết. Đối với một người Nga chân chính, châu Âu và vận mệnh của toàn thể chủng tộc Arien vĩ đại cũng quý giá như bản thân nước Nga, như vận mệnh của mảnh đất quê hương, bởi vì vận mệnh của chúng ta cũng là vận mệnh toàn thế giới". Trong cách hiểu nhiệm vụ và tư tưởng của nước Nga này Dostoievski rõ ràng gần gũi với Vl. Soloviev hơn là với các nhà Slavơ chủ nghĩa, hay các nhà dân tộc chủ nghĩa Nga mới nhất. Song trong ý thức cứu thế của Dostoievski có thể phát hiện thấy những mâu thuẫn và hiểm họa của bất kỳ ý thức cứu thế nào.
*
* *
Tư tưởng cứu thế được đưa vào thế giới qua dân tộc Do Thái cổ, dân tộc được Chúa đặc tuyển, mà trong dân tộc đó Đấng Cứu Thế nhất định phải xuất hiện. Và không có chủ nghĩa cứu thế nào khác từng tồn tại, ngoài chủ nghĩa cứu thế Do Thái. Chủ nghĩa cứu thế Do Thái được minh chứng bằng sự xuất hiện của Đức Ki tô. Nhưng sau sự xuất hiện của Đức Ki tô trong phạm vi thế giới Ki tô giáo đã không thể có ý thức dân tộc cứu tinh. Dân tộc được Chúa tuyển chọn là toàn bộ nhân loại Ki tô giáo. Các dân tộc đều có sứ mệnh của mình, thiên chức của mình, nhưng ý thức sứ mệnh không phải là ý thức cứu thế. Chủ nghĩa cứu thế Do Thái được tạo dựng trên sự cực kỳ xích gần và đồng nhất tính tôn giáo và tính dân tộc. Ý thức cứu thế không phải là ý thức dân tộc chủ nghĩa, - mà luôn chỉ là ý thức phân lập chủ nghĩa,- nó là một ý thức phổ quát. Dân tộc Do Thái không phải là một trong số các dân tộc nằm giữa các dân tộc khác, đó là dân tộc duy nhất của Chúa, nó được đòi hỏi cho sự nghiệp cứu vớt toàn thế giới, cho sự chuẩn bị Vương quốc của Chúa trên mặt đất. Và ý thức cứu thế bên trong thế giới Ki tô giáo luôn là sự tái Do Thái hóa Ki tô giáo, quay trở về đồng nhất tính tôn giáo toàn vũ trụ với tính dân tộc của Do Thái cổ. Trong tham vọng của dân tộc Nga thời nước Nga cổ, rằng nước Nga là La Mã thứ Ba, cũng có những yếu tố không thể nghi ngờ của Do Thái giáo trên nền tảng Ki tô giáo. Ở trong hình thức rõ rệt hơn có thể phát hiện yếu tố Do Thái giáo này trong chủ nghĩa cứu thế Ba Lan. Từ tư tưởng của La Mã thứ Ba, ý thức cứu thế Nga xuất hiện và xuyên suốt toàn bộ thế kỷ XIX, đạt tới thời hoàng kim của nó trong các nhà tư tưởng và nhà văn Nga vĩ đại. Tư tưởng cứu thế Nga đến được thế kỷ XX và tại đây đã bộc lộ số phận bi kịch của tư tưởng đó. Nước Nga Đế chế rất ít giống với La Mã thứ Ba,- trong nó, theo lời của Dostoievski, "Giáo hội nằm trong tình trạng bại liệt", nằm trong sự phụ thuộc hèn hạ vào Hoàng đế. Các nhà cứu thế chủ nghĩa Nga bèn hướng tới Thành quốc Tương lai, họ không có Thành quốc của mình. Họ hy vọng ở nước Nga sẽ xuất hiện vương quốc mới, Vương quốc ngàn năm của Đức Ki tô. Và thế rồi Đế chế Nga sụp đổ, cuộc cách mạng diễn ra, sợi xích vĩ đại trói buộc Giáo hội Nga với nhà nước Nga bị đứt tung. Và dân tộc Nga làm một cuộc thử nghiệm tạo lập vương quốc mới trong thế giới này. Nhưng thay vì La Mã thứ Ba nó xây dựng Quốc tế thứ Ba. Và ý thức của những người tiến hành Quốc tế thứ Ba cũng trở nên giống với ý thức cứu thế theo kiểu của mình. Họ ý thức mình là người mang ánh sáng từ phương Đông tới, thứ ánh sáng phải chiếu rọi cho các dân tộc phương Tây đang nằm trong bóng tối "tư sản". Số phận của ý thức cứu thế Nga là như vậy. Nó không chỉ có trong Philophei, mà cả trong Bakunin. Nhưng qua đó toát lên rằng ngay từ những cơ sở khởi thủy của ý thức cứu thế đã có những sai trái tôn giáo, có thái độ sai trái giữa cái tôn giáo và cái dân tộc. Lỗi lầm của chủ nghĩa sùng bái dân tộc nằm ở cốt lõi ý thức cứu thế và lỗi lầm đó kéo theo sự trừng phạt không tránh khỏi.
Những mâu thuẫn, cám dỗ và lầm lạc của tư tưởng cứu thế Nga được đưa vào hình ảnh Satov. Nhưng liệu bản thân Dostoievski có hoàn toàn tự do khỏi Satov không? Tất nhiên ông không phải là Satov, nhưng ông yêu Satov và từ Satov có cái gì đó nằm ngay trong chính ông. Tất cả các nhân vật của Dostoievski đều là một phần tâm hồn của bản thân ông, những thời điểm trên con đường của ông. Satov nói với Stavrogin: “Anh có biết, ai bây giờ là dân tộc duy nhất trên toàn trái đất "mang danh Chúa", dân tộc tương lai phục sinh và cứu vớt thế giới với danh nghĩa vị Chúa mới và ai là người duy nhất được trao chìa khóa của sự sống và tiếng nói mới không?" "Bất kỳ dân tộc nào cho đến nay vẫn còn là dân tộc, khi nó có vị Chúa đặc biệt của mình, còn tất cả các vị chúa còn lại trên thế giới phải xoá bỏ không chút dung hòa nào". Đó là sự quay trở lại chủ nghĩa phân lập đa thần giáo. Nhưng tiếp theo, Satov hoàn toàn biến thành tín đồ Do Thái giáo với những tham vọng toàn thế giới. "Nếu một dân tộc vĩ đại không có đức tin rằng chỉ trong một mình nó có chân lý, nếu không tin tưởng rằng một mình nó có khả năng và được đòi hỏi phục sinh và cứu vớt nhân loại bằng chân lý của mình, thì ngay lập tức nó sẽ biến thành một thứ tư liệu dân tộc học, chứ không phải một dân tộc vĩ đại... Nhưng Chân lý chỉ có một, và vì thế, chỉ có một dân tộc duy nhất trong các dân tộc có thể có vị Chúa Chân chính, mặc dù các dân tộc còn lại cũng có các vị chúa đặc biệt và vĩ đại của mình. Dân tộc duy nhất "mang danh Chúa" - đó là dân tộc Nga". Khi đó Stavrogin đặt cho Satov một câu hỏi vô cùng hóc hiểm: "Bản thân anh có tin vào Chúa hay không?". Satov ấp úng trốn tránh: "Tôi tin vào nước Nga, tôi tin vào đạo Chính thống của nó... tôi tin vào thân thể của Đức Ki tô... tôi tin rằng lần giáng thế mới sẽ được thực hiện ở Nga..." "Thế còn tin vào Chúa? - vào chính Chúa?" Stavrogin vặn hỏi. "Tôi... tôi sẽ tin vào Chúa". Trong đoạn đối thoại tuyệt vời này Dostoievski đã tự tố cáo sự hư trá của chủ nghĩa dân túy tôn giáo, chủ nghĩa sùng bái dân tộc tôn giáo, vạch trần mối hiểm họa của ý thức dân tộc cứu thế. Nhiều người Nga tin vào dân tộc trước khi tin vào Chúa, tin vào dân tộc hơn là tin Chúa, và thông qua dân tộc muốn đến với Chúa. Sự cám dỗ của chủ nghĩa sùng bái dân tộc là sự cám dỗ Nga. Và trong ý thức Nga tính tôn giáo và tính dân tộc thật hòa quyện vào nhau, đến mức khó mà tách bạch được chúng. Trong Chính giáo Nga sự hòa trộn đó đôi khi đi đến đồng nhất tôn giáo và dân tộc. Dân tộc Nga tin vào Đức Ki tô Nga. Ki tô - đó là vị Chúa của dân tộc, Chúa của tầng lớp nông dân Nga, có những nét Nga trong dáng dấp của mình. Nhưng đó cũng là khuynh hướng đa thần giáo trong Chính giáo Nga. Sự biệt lập và độc tôn tôn giáo dân tộc, sự xa cách với đạo Ki tô phương Tây và thái độ phủ nhận quyết liệt đối với nó, đặc biệt đối với thế giới Công giáo, tất cả những điều đó mâu thuẫn hiển nhiên với tinh thần toàn thế giới của đạo Ki tô. Mỗi dân tộc, cũng như mỗi cá thể, đều khúc xạ và phản ánh đạo Ki tô theo cách của mình. Và đạo Ki tô của dân tộc Nga phải là đạo Ki tô của riêng mình, có những nét cá nhân và độc đáo. Điều đó không hề mâu thuẫn với tính chất toàn thế giới của đạo Ki tô, bởi vì sự thống nhất nhân loại của Ki tô giáo là sự thống nhất cụ thể, chứ không phải trừu tượng. Nhưng trong đạo Ki tô Nga có mối hiểm họa của việc ngự trị tố chất dân tộc lên trên tính phổ quát Logos, của yếu tố nữ tính trên yếu tố nam tính, của tâm hồn trên tinh thần. Mối hiểm họa đó được cảm nhận ngay trong bản thân Dostoievski. Ông thường truyền bá cho vị Chúa của nước Nga, chứ không phải vị Chúa của toàn thế giới. Tính không khoan dung của Dostoievski là nét Do Thái giáo trong tính tôn giáo của ông. Hình ảnh Satov tuyệt vời ở chỗ trong y kết hợp tố chất cách mạng và tố chất "Trăm đen", bộc lộ sự gần gũi của hai tố chất ấy. Nhà cách mạng tối đa chủ nghĩa Nga và "tên Trăm đen”[1] Nga thường khó phân biệt, giữa họ có những nét giống nhau đến kinh ngạc. Và cả hai đều bị quyến rũ như nhau tới chủ nghĩa sùng bái dân tộc. Tố chất dân tộc dày vò lý trí họ, làm tổn thương và suy yếu tính cá nhân của họ. Cả người này và người kia - đều là những kẻ bị ám ảnh. Dostoievski phát hiện ra điều ấy, bởi vì ông cảm thấy trong bản thân mình cả yếu tố cách mạng, lẫn yếu tố "Trăm đen". Dostoievski phát lộ trong dân tộc Nga cái tố chất ghê gớm, mãnh liệt và khóai lạc mà các nhà văn dân tộc chủ nghĩa của chúng ta không nhận thấy. Không phải ngẫu nhiên trong lòng dân tộc Nga sinh ra giáo phái roi vọt, một hiện tượng rất dân tộc, điển hình Nga. Trong đó pha trộn Chính giáo Nga với đa thần giáo Nga cổ xưa, với chất Dionisos dân tộc. Chất tôn giáo Nga, khi nó tiếp nhận các hình thức khóai cảm, gần như luôn luôn bộc lộ thiên hướng tôn giáo roi vọt. Tố chất dân tộc tỏ ra mạnh hơn ánh sáng của Logos phổ quát.
Trong dân tộc Nga mối quan hệ cần có giữa yếu tố nam tính và nữ tính, giữa tinh thần và tâm hồn bị phá vỡ. Và đó là cội nguồn của mọi căn bệnh trong ý thức tôn giáo và dân tộc của chúng ta. Cái tố chất khủng khiếp của dân tộc Nga đã được miêu tả với sức mạnh thẩm thấu trực giác tuyệt vời trong cuốn tiểu thuyết của Andrei Belyi "Chim bồ câu bạc". Nước Nga không phải là phương Tây, nhưng cũng không phải là phương Đông. Nó là một Đông-Tây vĩ đại, sự gặp gỡ và tương tác của các yếu tố phương Đông và phương Tây. Ở đây ẩn chứa sự phức tạp và bí ẩn của nước Nga.
Dostoievski có tài tiên tri. Biệt tài đó đã được lịch sử minh chứng. Chúng ta cảm nhận sâu sắc điều đó, khi bốn mươi năm trôi qua sau ngày Dostoievski mất. Nhưng được chứng minh lại chủ yếu là những tiên báo tiêu cực, chứ không phải tích cực của Dostoievski về nước Nga và về dân tộc Nga. "Lũ người quỷ ám" là cuốn sách tiên tri. Điều đó bây giờ hiển hiện đối với tất cả chúng ta. Nhưng nhiều tiên báo tích cực của Dostoievski, chúng ngập tràn trong "Nhật ký nhà văn", đã không được minh chứng. Thật đau lòng bây giờ đọc lại những trang viết về Konstantinopol của Nga, về vị Sa hoàng của thời quá vãng, về dân tộc Nga như một dân tộc Ki tô giáo độc tôn và duy nhất trên thế giới. ở một điểm Dostoievski đã sai lầm nghiêm trọng và tỏ ra là nhà tiên tri tồi. Ông nghĩ rằng giới trí thức đã bị lây nhiễm chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa xã hội. Nhưng ông tin dân tộc Nga sẽ không tiếp nhận sự cám dỗ đó, vẫn tin tưởng vào Chân lý của Đức Ki tô. Đó là sai lệch của ý thức dân túy chủ nghĩa. Chủ nghĩa dân túy tôn giáo của Dostoievski đã làm giảm tài tiên tri của ông. Cách mạng Nga đã bác bỏ chủ nghĩa dân túy tôn giáo Nga, vạch trần những ảo tưởng và lừa dối của ý thức dân túy. "Nhân dân" đã phản bội đạo Ki tô, còn "giới trí thức" lại bắt đầu quay về với nó. Điều quan trọng nhất là cần giải phóng triệt để khỏi bất kỳ quan điểm giai cấp nào trong đời sống tôn giáo của nhân dân. Những người theo chủ nghĩa Slavơ và Dostoievski đã không được giải phóng hoàn toàn khỏi nó. Cần phải hướng về cá nhân và tìm kiếm sự cứu vớt trong việc tăng cường tính tinh thần của nó. Và điều đó phù hợp hơn với những khuynh hướng chính trong tinh thần của bản thân Dostoievski. Chủ nghĩa Slavơ đang kết thúc và chủ nghĩa phương Tây cũng đang kết thúc, chủ nghĩa dân túy Nga đã không thể tồn tại trong bất kỳ hình thức nào. Chúng ta bước vào một kích thước mới của tồn tại. Và chúng ta nhất thiết phải tạo dựng một ý thức tôn giáo và dân tộc mới, mang tính tinh thần, nam tính hơn. Dostoievski đã làm rất nhiều và không ngừng nghỉ cho việc tạo lập ý thức mới đó. Nhưng chính qua ông chúng ta nghiên cứu những cám dỗ và lỗi lầm của chúng ta. Trên con đường đi tới cuộc sống mới, tới sự phục sinh tinh thần cho dân tộc Nga cần trải qua sự nhẫn nhịn và ăn năn thông thường, trải qua kỷ luật tự giác khắc nghiệt của tinh thần. Chỉ khi đó sức mạnh tinh thần mới quay lại với dân tộc Nga. Sự khước từ tham vọng cứu thế phải củng cố thêm sứ mệnh dân tộc của nước Nga. Việc khắc phục chủ nghĩa dân túy phải củng cố thêm cá nhân và trả lại cho nó những phẩm chất của sứ mệnh văn hóa-tinh thần.
Phần 1, 2, 3
Chú thích: [1] “Trăm đen”- tên chung của các tổ chức khủng bố phản động cực đoan ở Nga trước Cách mạng.
|