|
Jean-Paul Sartre - Nỗi đam mê làm người thế kỷ 20 (7)
Giai đoạn 3, từ 1968 tới chết, năm 1980.
Cuộc bùng nổ của xã hội Pháp năm 1968 bất ngờ với mọi người kể cả Sartre. Một cuộc động đất xã hội, văn hóa. 10 triệu người đình công, nước Pháp có lúc tê liệt hoàn toàn, De Gaulle phải chạy qua Đức cầu cứu Massu, người chỉ huy quân đội Pháp ở Đức, rồi mới dám chống lại. Ảnh hưởng của nó lâu dài. Đặc điểm lớn nhất: không do Đảng cộng sản Pháp lãnh đạo. Hoàn toàn tự phát! Trong giới sinh viên cũng như trong giới lao động làm thuê.
Dĩ nhiên Sartre nhập cuộc, đứng về phía sinh viên, công nhân, phụ nữ... Dĩ nhiên, chàng ủng hộ những phong trào cực tả. Nhưng tư tưởng của Sartre, lúc ấy, không còn ảnh hưởng quyết định. Các phong trào sinh viên chàng ủng hộ, bảo vệ, dùng tên tuổi chàng để hoạt động nhưng có “tư tưởng” riêng. Trong thời gian ấy, Sartre đã làm bia đỡ đạn cho nhiều tờ báo: chính quyền bỏ tù giám đốc tờ báo nào, Sartre đứng ra làm giám đốc tờ báo ấy để những người chủ trương nó phát biểu lập trường, dù Sartre không tán thành lập trường đó. De Gaulle đã từng cản Michel Debré bỏ tù Sartre mà: On n’arrête pas Voltaire! Ai lại bỏ tù Voltaire! Món này đặc thù PhúLangXa. Nhiều chính khách Pháp thấm đậm văn hóa. Có lúc Sartre làm giám đốc của hơn chục tờ báo, có khi không biết gì về điều ấy!
Trong cơn bão tố ấy, Sartre cố tìm hiểu đằng sau cuộc động đất này có tư tưởng nào mới có thể giải quyết bế tắc tư tưởng cách mạng không.
Sau tháng Năm 1968, De Gaulle thỏa hiệp với Đảng cộng sảng Pháp. Hiệp ước Matignon giữa Chính phủ và các công đoàn thoả mãn những yêu sách của CGT (Tổng công đoàn lao động, do Đảng cộng sản Pháp lãnh đạo) dẹp cuộc nổi loạn tự phát của công nhân. De Gaulle giải tán quốc hội, tổ chức bầu cử và thắng đậm: lần đầu tiên, đảng của De Gaulle chiếm đa số tuyệt đối trong quốc hội. Điều đó cũng đủ nói: nhân dân Pháp không chấp nhận xã hội cũ nhưng cũng không sẵn sàng nhảy vào một tình thế cách mạng hỗn loạn. Chính quyền tư sản thông minh, liên tục cải cách mọi lĩnh vực, biến xã hội Pháp thành một xã hội cởi mở hơn, dễ thở hơn, trong đó đa số có đất sống, có chân đứng. Đây là thời kỳ phát triển cực mạnh, cực nhanh của nước Pháp. Ai đã từng so sánh Paris hay hệ thống xa lộ của Pháp năm 1968 với Paris và hệ thống xa lộ ấy 10 năm sau cũng thấy. Song song, khối xã hội chủ nghĩa suy tàn, tự sụp đổ, kéo theo nó các đảng cộng sản Tây Âu đã gắn định mệnh mình với đường lối chính trị của Liên Xô.
Trong suốt quá trình này Sartre ủng hộ các nhóm cực tả. Nhưng tác dụng chính trị giới hạn. Triết, không có tác phẩm đáng kể. Văn, có bộ sách về Flaubert.
Cuối đời[71], Sartre mơ ước nhất là sẽ có người vượt tác phẩm của mình, dựa vào nó để tiến xa hơn. Chàng nhận định rằng, cho tới lúc đó, chưa ai làm chuyện đó. Những tác phẩm chàng mong người đời sau vượt là:
- Triết: Critique de la raison dialectique, Phê phán lý trí biện chứng.
- Tiểu luận: Saint Gênet, comédien et martyr, Thánh Gênet, kịch sỹ tử vì đạo.
- Kịch: Le Diable et le Bon Dieu, Ác Quỷ và Thượng Đế (Chúa).
- Tiểu thuyết: La Nausée, Buồn nôn.
- Văn: bộ Situation, Thế, vì đó “là phần tuy không là triết lý nhưng gần triết lý nhất: vừa phê phán vừa chính trị[72]“. Ở nơi khác, chàng đã đánh giá bộ sách này như sau: la philosophie en action, en prise sur l”événement, sous une forme littéraire (triết lý đang hành động, đang đương đầu với biến cố, dưới sắc thái văn chương).
Điều duy nhất chàng thực sự thích làm là ngồi trước bàn, viết, nhất là triết.
Năm 1980, Sartre vào nhà thương, lúc đầu tưởng bệnh nhẹ, sau trở thành trầm trọng, da thịt chết dần, loang lở tứ tung. Trước khi chết, chàng lo lắng hỏi Simone de Beauvoir: chàng còn đủ tiền thanh toán chi phí chôn cất không? Tuy chẳng ai kêu gọi, tổ chức, hơn 50.000 người tự động đi đưa đám. Chưa nhà văn, triết gia Pháp nào được vinh dự ấy. Từ cửa sổ một bàn giấy trong sở, tôi nhìn đoàn người bước đi trên đại lộ Montparnasse. Vợ chồng, người yêu nắm tay nhau, cha mẹ dắt, bồng bế con trên vai, trên lưng, dưới nách. Họ tươi cười trò chuyện hoặc lặng thinh, không ai khóc, không ai nghiêm trọng, bi ai. Đây không phải đám tang, đây là tiễn đưa một người bạn, tuy ai cũng biết người ấy sẽ không bao giờ trở lại. Tôi không đưa đám Sartre. Tôi đứng đó nhìn, hồi tưởng những điều chàng đã cho tôi. Chàng đi đâu thì đi. Chàng vẫn ở trong tôi. Tôi là một phần sống của chàng.
Hôm nay, tôi không còn suy luận trong môi trường nhân sinh quan của chàng. Tôi đã từng phê phán nó trong một quyển sách của tôi. Làm thế, với tôi, là trả món nợ đời của tôi với Sartre. Nhưng, khi cần, tôi vẫn không ngần ngại viết:
Sự thật đau nhất của con người là nó không có sự thật, không là sự thật. Không có chân lý nào, dù tiềm tàng hay ẩn nấp, đằng sau tim sọ của nó. Tâm hồn nó trong veo, trong suốt, trong tới mức khả nghi. Tâm hồn ấy lại không thể tiếp cận bất cứ một hiện thực nào mà không đồng thời sáng tạo một hình thù, mầu sắc, âm hưởng, cảm giác, không sáng tạo hay tái tạo cả một thế giới giá trị, khiến hiện thực kia đượm nhân tình[73].
Đó là tư tưởng của Sartre diễn Nôm.
Kết thúc bài này, xin phép cho tôi thổ lộ một khát khao nẩy sinh trong quá trình tôi viết nó: “khích” độc giả đọc tận gốc tác phẩm của Sartre. Biết đâu, sẽ có người có nhu cầu dịch hay trình bầy lại một cách trung thực, trong một ngôn ngữ mà người Ziao Chỉ hiểu được, để bà con hiểu, thậm chí chia sẻ một đam mê làm người cực đẹp của thế kỷ 20. Dĩ nhiên, không để làm học trò hoặc thầy chấm điểm Sartre. Bản thân chàng ghét hai thái độ đó. Ta chỉ có thể viết về Sartre một cách đáng chú ý khi ta yêu Sartre hơn mê ta. Nhưng đã yêu Sartre, không thể làm học trò hay thầy chấm điểm chàng. Như chàng mong đợi, kêu gọi lúc cuối đời, dù chỉ ở mức nhỏ nhoi, ta nên cố gắng vượt chàng để làm chính mình, để làm người.
Tháng 10/2003
Phần 1, 2, 3, 4, 5, 6
Chú thích:
[71] Entretiens sur moi-même, Situation X. [72] Entretiens sur moi-même, Situation X, trang 155. [73] Vẫy gọi nhau làm người, bài Niềm tin khủng khiếp.
|