Nghiên cứu

Thứ năm, 15/01/2004, 08:07
 

Jean-Paul Sartre - Nỗi đam mê làm người trong thế kỷ 20 (4)

Phan Huy Đường

Lead

Thực-thể-do-tha-nhân, Être-pour-Autrui

Ta trực giác tha-nhân qua thể-xác[56] (corps) của ta và của tha-nhân. Bản thể của thể-xác là:

J’existe mon corps: telle est sa première dimension d’être. Mon corps est utilisé et connu par autrui: telle est sa seconde dimension. Mais en tant que je suis pour autrui, autrui se dévoile à moi comme le sujet pour lequel je suis objet. [...] J’existe pour moi comme connu par autrui à titre de corps. Telle est la troisième dimension ontologique de mon corps[57]. Ta nghiệm sinh thể-xác của ta: đó là kích thước bản thể đầu tiên của nó. Thể-xác của ta, tha-nhân dùng và biết: đó là kích thước bản thể thứ hai của nó. Nhưng vì ta đối với tha-nhân, tha-nhân tự lộ diện với ta như một chủ thể lấy ta làm vật thể. [...] Ta nghiệm sinh chính ta như một thể-xác mà tha-nhân biết [là gì]. Đó là kích thước bản thể thứ ba của thể-xác của ta.

Trực giác ấy bao hàm hai ý nghĩa:

a/ Tha-nhân ý-thức về ta.. Đối với tha-nhân ta một cái gì. Vậy tha-nhân có thể mang lại điều ta thiếu hụt: thực-thể-tự-tại, khiến ta ta.

b/ ta gì trong mắt tha-nhân, ta không thể biết, không thể làm chủ vì tha-nhân tự-do như ta.

[…] l’existence d’autrui me révèle l’Être que je suis, sans que je puisse ni m’approprier cet être ni même le conce­voir, […] autrui me regarde et, comme tel, il détient le secret de mon être, il sait ce que je suis[58]; […] sự hiện hữu[59] của tha-nhân tiết lộ cho ta rằng ta , mặc dù ta không thể nào chiếm hữu thực-thể đó và cũng không có ngay cả khả năng hình dung nó thế nào […] tha-nhân nhìn ta và, trong tư thế ấy, nắm giữ bí mật của thực-thể của ta, nó biết ta là gì;

Diễn Nôm: Mình chỉ biết mình gì, ai qua ánh mắt của người khác!

[…] en tant qu’autrui comme liberté est fondement de mon être‑en‑soi, je puis chercher à récupérer cette liberté et à m’en emparer, sans lui ôter son caractère de liberté: si je pouvais, en effet, m’assimiler cette liberté qui est fondement de mon être‑en‑soi, je serais à moi-même mon propre fondement[60]. Vì tha-nhân, với tư cách là tự-do, là nền tảng của thực-thể-tự-tại của ta, ta có thể tìm cách chiếm hữu tự-do ấy tuy không hủy bỏ tính tự-do của nó: đúng thế, nếu ta nhập được vào ta cái tự-do làm nền tảng cho thực-thể-tự-tại của ta, ta sẽ là nền tảng của chính mình.

Hoài bão ấy, đam mê ấy, Sartre gọi là… tình-yêu[61]!

Ê, diễn Nôm để xả hơi một tí nhe. Nếu em yêu anh vì: a/ anh đẹp trai, b/ anh học giỏi, có nhiều bằng cấp, c/ anh con nhà giàu, anh không thích đâu. Anh muốn em yêu anh vì anh anh và, do đó, em không thể yêu ai khác. Này, chàng ơi, muốn thế thì bỏ mạng đấy, Địa ngục, chính là nàng đấy.

L’Être et le Néant gồm: Nhập đề: bàn về Thực-thể-tự-tại. Phần 1: bàn về Hư-vô. Phần 2: bàn về Thực-thể-vì-mình. Phần 3: bàn về Thực-thể-do-tha-nhân. Phần 4: bàn về Sở-hữu, Làm, Avoir, Faire et Être. Phần 5: kết luận.

Tuy những đàm luận của Sartre lý thú, ta nên ngừng ở đây. Nội dung các phần còn lại có thể suy diễn ra dễ dàng. Vắn tắt. Đam mê sở-hữu là một đam mê hão, thể hiện nếp sống không trung thực. Quan hệ giữa làm phức tạp hơn. Ta bắt buộc phải làm để . Nếu ta làm để tổng thống, tỷ phú, nhà văn hay đĩ, ta sống một cách không trung thực. Nếu ta muốn sống trung thực với chính mình, ta nên sống để làm người, kẻ không ngừng phủ định tất cả, kể cả chính minh.

Khái niệm tự-do-trong-hoàn-cảnh (liberté en situation)

Con người có khả năng phủ định vì nó tự-do. Nhưng không có phủ định hay tự-do chung chung. Phủ định luôn luôn là phủ định điều gì. Tự-do luôn luôn là tự do đối với. Ta phủ định điều gì, điều đó định nghĩa ta, ta đã bị điều ấy. Vì thế Sartre lật ngược câu của Spinoza và viết: Toute détermination est négation, Mọi xác định đều là phủ định[57]. Câu văn nổi tiếng của Spinoza là: Toute négation est détermination, Mọi phủ định đều là xác định. Hegel đồng ý với Spinoza nên cho rằng phủ định một điều gì nghĩa là vượt (dépasser) nó nhưng vẫn giữ nó trong mình. Một thí dụ dễ hiểu: quan điểm về vũ trụ của Einstein phủ định quan điểm của Newton. Nó không xoá sạch quan điểm của Newton, vẫn đúng vẫn hữu dụng trong một khung cảnh hành động nhất định. Nó bao trùm, giải thích, hoàn thiện quan điểm của Newton. Một thí dụ khó nuốt: tôi phủ định chủ nghĩa cộng sản thì nó định nghĩa chính tôi. Người đời, cảm nhận lờ mờ điều ấy, gọi tôi là người chống cộng. Tự-do đối với có nghĩa: dù muốn dù không, ta tự-do nhưng, cụ thể, ta tự-do đối với điều ta phủ định, ta tự-do tùy và mặc dù hoàn cảnh, ta tự-do-trong-hoàn-cảnh.

Khái niệm Thượng đế, Dieu (Chúa của Ky-tô giáo)

Thượng đế là thực-thể tự-tại vì-mình, être-en-soi et pour-soi. Điều đó mâu thuẫn, không thể có được.

Khái niệm sự thực (vérité), sự trung thực với chính mình (authenticité), sự giả dối với chình mình (mauvaise fois)

Nói sự thực là nói mọi chuyện đúng như nó nó.

Ngay trong quan hệ giữa người với thế giới vật chất cũng không thể làm được. Tôi ngắm ly rượu, phán: rượu mầu đỏ. Tôi nói dóc. Làm gì có mầu tự nó là đỏ! Trong vật lý, mầu đỏ là một cụm từ vô nghĩa, vô dụng, không thể đưa vào một phương trình tính toán. Trong vật lý, chỉ có độ dài của một làn sóng biểu hiện bằng một con số (lượng), không có mầu đỏ. Mầu đỏ là một quan hệ về chất giữa một cá nhân với thế giới[62]. Quan hệ cá nhân ấy chỉ có giá trị cá nhân.

Trong quan hệ giữa người với người, giữa con người với chính mình, càng không thể thực hiện được. Con người chỉ là quá trình phủ định tất cả, kể cả chính mình, nó không tài nào nó, không thể gì cả, nó không có khả năng nói nó gì, ai, không có khả năng nói sự thực về nó. Điếu đó, nó biết rõ qua nghiệm sinh của nó. Khi nó giả vờ sống như thể nó cái gì, chính mình, cần thiết, có lý do tồn tại, có nghĩa, có giá trị tự nó, nó tự dối mình (mauvaise fois), sống một cách không trung thực (inauthentique). Nó làm vậy vì nó khát khao tự-tại (la foi de la mauvaise foi, niềm tin của sự giả dối). Sartre đã từng giải thích, những nhân vật trong 4 truyện ngắn của tuyển tập Le Mur, Bức tường, đều thể hiện nếp sống không trung thực[63]. Lời đó có thể áp dụng cho toàn bộ tác phẩm văn chương của Sartre trong gian đoạn này.

Trong L’Être et le Néant, dựa vào một số nhận xét, khái niệm cơ bản, Sartre phân tích, định nghĩa lại rất nhiều khái niệm của triết học, của đời sống hàng ngày: Thực-thể, Hư vô, khách quan, chủ quan, khả năng hỏi, sự giả dối với chính mình, sự thực, sự thành thực, mình, thời gian, lượng và chất, kiến thức, thể xác, tình yêu, ngôn ngữ, nhu cầu hành hạ mình, sự thèm muốn xác thịt, sự thù hận, nhu cầu tra tấn người khác, tự-do, v.v. Những phân tích ấy đều đáng đọc, chúng bổ sung nhau một cách nhất quán. Không thể trình bầy lại ở đây. Tuy vậy, những phân tích ấy xuất phát từ một lõi lý luận chung. Để dễ nhớ, tôi gạt qua những suy luận chi tiết, tóm tắt thô sơ tư tưởng của L’Être et le Néant như sau.

Thực-thể, toàn bộ những gì có thật gồm ba phần[64]: Thực-thể-tự-tại (Être-en-soi), Thực-thể-vì-mình (Être-pour-soi), Thực-thể-do-người-khác (Être-pour-autrui).

Tính đặc thù của thực-thể-tự-tại là: nó, chấm hết. Trong thực-thể-tự-tại có cả vũ trụ và quá khứ của con người. Quá khứ ấy cũng tự-tại, khách quan. Hôm qua, ngắm Nhà Thờ Đúc Mẹ vút từ sông Seine lên trời, anh bỗng yêu em. May thay, em có đó. Anh bèn ôm em, thiết tha, nồng nàn hôn em cái chụt. Đó một sự thật khách quan, vĩnh viễn chính nó, không gì có thể khiến nó khác nó. Như mọi sự thật, nó đã bị là, nó là sự-thật-đã-trở-thành (Toute vérité est devenue). Nó là một thành phần cấu tạo bản chất (essence) của tôi. Tôi nó, không thể chối cãi, trốn tránh được. Nhưng hôm nay, tôi không là nó. Trước mắt tôi có vô vàn khả năng làm người trong đó nó chỉ là một. Không có gì cấm tôi tiếp tục làm nó. Không có gỉ bắt tôi làm nó. Tôi và không là nó, tôi phải là nó theo kiểu không là (l’Être qui a à être lui-même sur le mode du n’être pas). Nếu em bắt tôi thề thốt liên miên, bắt tôi phải tôi, vĩnh viên tôi, sẽ có ngày em lãnh đủ: Địa ngục, chính là tha-nhân. Tôi với em đã vậy. Em với tôi, than ôi, cũng… thế thôi! đàn ông, khốn nạn thật.

Tính đặc thù của thực-thể-vì-mình là: nó là một quá trình phủ định liên miên, phủ định toàn bộ thực-thể-tự-tại và phủ định chính mình, vươn tới tương lai của mình. Tương lai ấy không gì cả, hoàn toàn vô định. Con người hoàn toàn tự-do hoàn toạn tùy thuộc nội dụng cụ thể của phủ định cụ thể: anh phủ định gì? Những hình thái có thể (possibles) của những tương lai ấy gọi là projet (dự-kiến) trong nghĩa projet de soi, dự-kiến làm chính mình. Đam mê (passion) cơ bản nhất của thực-thể-vì-mình là được tự-tại như thực-thể-tự-tại nhưng đồng thời vẫnthực-thể-vì-mình. Dưới hình thái tôn giáo, đó là đam mê hoà mình với Thượng Đế. Trong đời thường, đó là đam mê được là chính mình. Những đam mê ấy hão, dồn con người vào kiếp sống không trung thực.

Tính đặc thù của Thực-thể-do-tha-nhân là: tha-nhân là kẻ duy nhất có thể mang lại cho mình phần thiếu hụt của mình, thực-thể-tự-tại. Nhưng tha-nhân cũng tự-do như mình. Vì thế, trong tình yêu thông thường, mình có nhu cầu chiếm hữu tha-nhân một cách đặc biệt, chiếm thể-xác, đã đành, vì tha-nhân hiệu hữu với mình qua thể-xác của nó. Nhưng cơ bản hơn, chiếm hữu một linh hồn với tư cách linh hồn, tức là tự-do, nhưng chỉ tự-do để khẳng định mình thôi. Đam mê hão đó dồn con người vào nếp sống không trung thực.

Vì thế, giữa ba phạm trù cơ bản của con người-trong-thế-giới (être-dans-le monde), Avoir, Faire, Être (Sở-hưu, Làm, Là), Sartre chọn phạm trù Làm để làm người. Trong giai đoạn đầu đời, chàng tưởng làm nghệ thuật là xong chuyện.

Nội dung triết của các tác phẩm văn chương của Sartre trong giai đoạn này, cơ bản là nội dung trình bầy trong L’Être et le Néant. Chính Sartre đã nói: các tác phẩm ấy vạch mặt kiểu sống không trung thực. Những câu văn nổi tiếng của chàng phải hiểu với nội dung ấy. Vài thí dụ:

L’homme est une passion inutile, Con người là một đam mê hão. Đam mê hão ở đây là đam mê trở thành L’Être-en-soi et pour-soi, Thực-thể-tự-tại-và-vì-mình, trở thành Thượng đế hay đam mê chính mình. Vì điều đó không thể thực hiện được, đam mê ấy dồn con người vào kiếp sống không trung thực. Dịch từ inutile bằng hão chính xác hơn dịch bằng vô ích. Vô ích chỉ nói lên sự bất lực, lại có nghĩa vô dụng, không khơi tính hão huyền, tự lừa dối mình.

Salauds, đồ đểu. Một khái niệm đặc thù của Sartre, đã trở thành thời thượng suốt một thời, xuất hiện lần đầu trong La Nausée. Nó chê trách những kiếp sống trong đó con người giả vờ tin rằng mình là, cần thiết, nhiệm vụ, thực-thể của mình trong thế giới tất yếu. Một biểu tượng nổi tiếng của khái niệm này là nhân vật Lucien trong L’enfance d’un chef, Tuổi thơ của một sếp. Tất nhiên, với Sartre, những ông sếp trên đời đều là đồ đểu.

L’Enfer, c’est les Autres, Điạ ngục, chính là Tha-nhân. Nội dung triết lý của nó: tha-nhân là kẻ duy nhất có thể mang lại cho mình phần thiếu hụt của mình, tha-nhân nắm trong tay bí mật của chính mình, vì thế mình cứ phải lẽo đẽo theo Tha Nhân để trở thành mình. Vì tha-nhântự-do, mình không bao giờ được cho điều đó, có khi còn bị gán đủ thứ chuyện mình không ngờ nổi, nhưng vẫn phải gánh! [Trừ khi mình gặp Simone de Beauvoir. Hè, hè, triết gia...]

Tựa La Putain respectueuse, Con đĩ kính cẩn, và nội dung vở kịch ấy cũng thể hiện triết lý của L’Être et le Néant. Mặc dù mình đã bị người đời biến mình thành đĩ, mình vẫn kính trọng (respecter) quan điểm đó của người đời, tự coi mình đĩ. Vở kịch hay ở điều sau. Con đĩ làm như thế vì nó tin tưởng những giá trị do người đời tạo ra, nó tự chấp nhận đĩ vì nó còn tin tưởng ở người. Nó đáng thương ở đó. Những đứa coi nó đĩ, một loại người hạ cấp, không cùng “bản chất” với mình, không đáng mặt người.
 

Câu văn trứ danh La liberté, c’est l’angoisse du choix, Tự-do, chính là khắc khoải lựa chọn, có nội dung triết sau: khắc khoải không do mình sợ lựa chọn đúng hay sai và do đó có thể không đạt điều mình muốn, mà do mình sợ tự-do của chính mình: không có lý do nào khiến mình phải lựa chọn tương lai này hay tương lai khác, chính mình tạo lý do đó và mình thừa biết lý do đó không đầy đủ để giải thích lựa chọn của mình. Trước vực thẳm, mình phải lựa chọn giữa hai khả năng của chính mình: bổ đầu xuống đó hay ngoảnh mặt, đi chỗ khác. Hai lựa chọn đó đều không tất yếu, đều “vô lý”. Đây là ý nghĩa của chương một, quyển 4 trong bộ Les chemins de la liberté (Những nẻo đường tự-do), đăng trong Les Temps modernes. Bỏ dở): nhân vật cầm dao cạo râu, thời đó có thể cứa cổ, nhìn mình trong gương... chấm hết.

Còn tiếp

Phần 1, 2, 3
 
---

Chú thích:

[57] L’Être et le Néant, trang 430

[58] Dịch như vậy có vẻ không đồng nhất, nhưng đúng nội dung và dễ hiểu: một hình thái cơ bản của sự nghiệm sinh là sự có mặt với chính mình (présence à soi) và sự có mặt của tha-nhân (présence d"autrui).

[59] L’Être et le Néant, trang 430

[60] Vì thế, Sartre nghĩ: mình không thể yêu chính mình được. Giời đất ơi, thế thì chết người ta!

[61] L"Être et le Néant, trang 52.

[62] Quan điểm của tôi, không phải của Sartre, tuy không mâu thuẫn với Sartre.

[63] Các nàng ơi, hãy thương lấy chúng tôi, đừng bao giờ bắt chúng tôi phải luôn luôn thành thực (sincère), luôn luôn nói sự thực (vérité). Không thì Địa ngục, chính là Tha-nhân đấy.

[64] Không nên hiểu như một cái bánh chia 3! Nên hiểu như ba kích thước vừa thống nhất với nhau vừa biệt lập với nhau. Sartre dùng khái niệm les régions de l’Être, những vùng của thực-thể.

Các bài khác:
 

Hệ thống biểu tượng trong 'Biên niên ký chim vặn dây cót'

Có một triết gia Nguyễn Huy Thiệp

Tuyết bỏng

Dục vọng trong tiểu thuyết VN về chiến tranh (phần 2)

Dục vọng trong tiểu thuyết VN về chiến tranh từ 1986 đến 1996 (phần 1)

Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học VN sau 1986

Kiểu kết cấu trò chơi trong 'Lá diêu bông'

Ngôn ngữ và nhà thơ

Aristotle là kẻ đạo văn lớn nhất mọi thời đại?

Một số đặc điểm trong tư duy tự sự của Nam Cao qua 'Chí Phèo'

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z