|
Jean-Paul Sartre - Nỗi đam mê làm người trong thế kỷ 20 (3)
Trả lời của Hegel
Hegel phủ định triết lý của Kant, đưa ra một thế giới quan và một phương pháp suy luận mới. Trong thế giới quan của Hegel, không còn sự phân li tuyệt đối giữa thế giới bên ngoài và ý thức. Thế giới thực (le réel) là một thế giới thống nhất:
Ce qui est rationnel est réel; et ce qui est réel est rationnel, Điều có lý có thực, và điều có thực có lý[41].
Quan trọng hơn: thế giới thực đó không ngừng vận động, biến tướng. Điều chúng ta có thể ý thức và hiểu không là bản chất (essence) hay bản thể (être) của sự vật, tất cả những thứ đó chỉ là những hình thái tạm thời trong quá trình vận động của mọi sự. Điều ta có thể hiểu là quá trình vận động không ngừng sản sinh mọi sự vật, sự kiện, từ thế giới vật chất đến tư duy của con người. Phương pháp suy luận biện chứng cho phép ta hiểu quá trình vận động ấy.
Theo Engels, Hegel sống trong một thời đại có thời trang sau: triết gia chưa xây dựng một hệ thống tư duy vĩnh viễn bao trùm mọi kiến thức, giải thích mọi chuyện, vạch ra sự thực tuyệt đối, chưa đáng mặt triết gia. Do đó Hegel đã gói ghém toàn bộ trước tác của ông trong một hệ thống kiến thức với một khởi điểm duy nhất (đồng thời cũng là kết quả cuối cùng) là Ý Niệm Tuyệt Đối (Idée Absolue[42]). Ý Niệm Tuyệt Đối tự phân hóa thành hai cực đối lập, mỗi cực lại tự phân hóa thành hai cực đối lập khác, và cứ thế vũ trụ, sự sống và tư duy hình thành. Tóm lại: mọi sự đều vô ngã, vô thường, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái… cứ như triết lý mà Chu Chỉ Nhược mách khéo cho Trương Vô Ky trên Quang Minh Đỉnh! May thay, Hegel không biết võ công, không có nhu cầu ký đầu ai để giúp người ấy thành Phật. Ông chỉ muốn giải thích quá trình phát triển của lý trí.
Trong nhân sinh quan của Hegel, toàn bộ những gì con người có thể bàn tới chỉ là những hình thái tạm thời, có tính lịch sử, của một quá trình vận động. Đóng góp đặc sắc của Hegel là một phương pháp suy luận cho phép tìm hiểu quá trình vận động đó trong đủ thứ lĩnh vực của tư duy, phương pháp suy luận biện chứng. Hegel lớn ở đó. Người đời sau chế diễu ông đã đồng nhất Ý thức tuyệt đối với triết lý của ông và sự hiện thực của nó với Nhà nước Phổ: tiểu nhân đắc chí.
Năm 1933, Sartre được một học bổng, qua Berlin một năm, tìm hiểu Hiện Tượng Luận (Phénoménologie) của Husserl. Năm 1945, Sartre mới đọc Phénoménologie de l’Esprit, Hiện tượng luận về Tinh thần của Hegel. Nhưng trong L’Être et le Néant, chàng bàn tới Hegel rất nhiều. Có thể chàng biết Hegel qua những giáo trình của Kojève, nhưng cũng có thể là qua sách chàng đọc tại Berlin.
Trả lời của Sartre Nhân sinh quan của Sartre nằm trong nhân sinh quan của Descartes: có một thế giới vật chất tự-tại ngoài ý-thức của con người và một thế giới tinh thần khác hẳn, tuy không độc lập với nó (khác Descartes) nhưng không phụ thuộc nó, biệt lập (transcendant, giống Descartes).
Bản thể của Thực-thể-tự-tại, Être-en-soi
Sartre khởi đầu bằng nhận xét của Husserl[43]: ý-thức luôn luôn là ý-thức về điều gì, la conscience est toujours conscience de quelque chose. Quelque chose có thể dịch là cái gì. Dịch thế, không đúng. Cái gì đó, trong triết lý của Sartre có thể là chính mình! Nhưng trong nhiều thí dụ, Sartre dùng vật thể làm đối tượng của ý-thức, trong trường hợp đó, dịch bằng cái gì dễ nghe hơn[44]. Ý-thức về cái gì cũng có nghĩa không là cái đó. Thí dụ: ta ý-thức về cái bàn thì ta không là cái bàn. Nguồn gốc và ý nghĩa của phủ định (négation) nằm ngay trong hai từ không là đó. Khác biệt cơ bản giữa thực-thể và ý-thức ở đó. Thực-thể tự nó là nó, chỉ là nó, luôn luôn và vĩnh viễn là nó. Ý-thức không là.
Hình thái ý-thức này, Sartre gọi là cogito preréflexif, ý-thức chưa có suy luận. Một loại ý-thức-trực-giác.
Chương đầu của L’Être et le Néant kết thúc như thế. Kết luận chính, tính đặc thù của thực-thể là:
L’Être est. L’Être est en soi. L’Être est ce qu’il est.[45] Thực-thể là. Thực-thể tự-tại. Thực-thể là cái gì nó là. il ne se pose jamais comme autre qu’un autre être; il ne peut soutenir aucun rapport avec l’autre. Il est lui-même et il s’épuise à l’Être[46]. nó không bao giờ tự đặt mình như khác một thực-thể khác; nó không có khả năng quan hệ với bất cứ gì khác nó. Nó là nó và là như thế đến kiệt sức[47].
Nhìn theo góc độ của người (anthropologie):
Incréé, sans raison d’être, sans rapport aucun avec un autre être, l’Être-en-soi est de trop pour l’éternité[48]. Không do ai tạo ra, không có lý do tồn tại, không có quan hệ nào với một thực-thể khác, thực-thể-tự-tại vĩnh cửu có thừa[49].
Thực-thể ấy, Sartre gọi là être-en-soi, thực-thể-tự-tại, cho nó là ngẫu nhiên (contingent), không cần thiết, không có lý do tồn tại. Nếu ta hiểu être-en-soi là toàn bộ vũ trụ vật chất thì đây là thực-thể của Descartes và Kant. Hiểu như thế, sai. Trong tư tưởng của Sartre nó còn có cả một phần của con người.
Hư-vô, Néant
Đặt câu hỏi về bất cứ điều gì là chấp nhận trước khả năng có 2 trả lời: có hoặc không, linh cảm hiện diện của hư-vô. Hư-vô đối với cả vũ trụ: ngoài vũ trụ, có gì? Không có gì cả. Hư-vô đối với chính mình: ta là gì? Không biết. Không là gì cả.
La condition nécessaire pour qu’il soit possible de dire non, c’est que le non‑être soit une présence perpétuelle, en nous et en dehors de nous, c’est que le néant hante l’Être[50]. Điều kiện cần thiết để có thể nói không là vô-thể luôn luôn có mặt, trong chúng ta và ngoài chúng ta, là hư-vô ám ảnh thực-thể. Thực-thể-vì-mình, Être-pour-soi
Hư-vô từ đâu ra?
Nó không thể từ thực-thể-tự-tại mà có được. Thực-thể-tự-tại là nó, vĩnh viễn là nó, không thể tiết ra một điều gì khác nó. Hư-vô không thể tự-tại vì nó không có thực. Nó không thể có một cách độc lập với thực-thể-tự-tại vì hư-vô luôn luôn là hư-vô của một điều gì, le néant de quelque chose. Hư-vô cũng không thể tự-hư-vô-hóa, vì trước khi có thể tự-hư-vô-hóa, phải là cái đã:
Le Néant n‘est pas, le Néant “est été”; le Néant ne se néantise pas, le Néant “est néantisé”[51]“. Hư-vô không là, Hư-vô “đã bị là”; Hư-vô không tự-hư-vô-hóa, Hư-vô “đã bị hư-vô-hóa”.
Người Pháp cũng khó mà hiểu nổi! Chia động từ être kiểu này không có trong tiếng Pháp, chỉ bắt đầu xuất hiện dưới ngòi bút của Sartre. Ý thế này: hư-vô không tự nó có thực, nó là kết quả của một quá trình hư-vô-hóa như quá khứ là kết quả của quá trình sống. Điều quan trọng ở đây: chủ thể của quá trình hư-vô-hóa không là Hư-vô (“đã bị hư-vô-hóa”).
Vậy, phải có một thực-thể mang hư-vô vào thế giới: un être par quoi le néant vient aux choses[52].
Để làm chuyện ấy:
l’Être par qui le Néant vient au monde doit être son propre Néant[53]. thực-thể mang Hư-vô vào thế giới phải là Hư-vô của chính mình.
Đó là bản thể của nó. Thực-thể ấy chính là con người.
Con người có ý-thức về. Nhưng nó không thể ý-thức về bất cứ điều gì mà không đồng thời ý-thức rằng nó đang ý-thức, la conscience d’être conscient, không thể không ý-thức về chính mình (soi). Ý-thức về mình cũng có nghĩa: không là mình, là hư-vô-hóa chính mình! Để nhấn mạnh hình thái ý-thức đặc biệt này, Sartre viết: conscience (de) soi, ý-thức (về) mình. Thực-thể đặc biệt này Sartre gọi là Thực-thể-vì-mình, Être-pour-soi.
Cette possibilité pour la réalité humaine de sécréter un néant qui l’isole, Descartes, après les Stoïciens, lui a donné un nom: c’est la liberté[54]. Khả năng tiết ra một hư-vô tách mình ra khỏi mọi sự của hiện-thực-người, Descartes, sau các triết gia của phái Khắc-kỷ, đã đặt tên cho nó: tự-do. Ce que nous appelons liberté est donc impossible à distinguer de l’Être de la “réalité humaine”. L’homme n’est point d’abord pour être libre ensuite, mais il n’y a pas de différence entre l’Être de l’homme et son “être‑libre”. Như thế, điều chúng ta gọi là tự-do không thể phân biệt được với thực-thể của “hiện thực người”. Con người không đã có để rồi trở thành tự-do sau đó. Không có khác biệt giữa thực-thể người với “là-tự-do”.
Cái mình (soi) kia, Sartre gọi là bản chất, essence của con người. Nó không có tự nó, nó là sản phẩm của toàn bộ quá trình tự-hư-vô-hóa của ta, nó là ta dưới dạng đã bị là. Vì thế, ta chỉ trở thành ta sau khi chết và chỉ lúc đó người đời mới biết được ta là gì, là ai. Sartre bình luận câu văn nổi tiếng của Malraux như vậy: Cái chết biến cuộc sống thành định mệnh (La mort transforme la vie en destin). Khi đã chết, con người hết khả năng thay đổi đời mình, cuộc đời ấy đọng lại thành thực-thể-tự-tại, khách quan, thành định mệnh. Nó là nó, chấm hết. Ý nghĩa, giá trị của nó đều do tha-nhân quyết định. Đây là nội dung cơ bản của vở kịch Huis-Clos, Xử kín.
Ba nét đặc thù của thực-thể-vì-mình là:
a/ nó ngẫu nhiên như thực-thể-tự-tại vì nó không thể có ngoài thực-thể-tự-tại.
b/ tuy nó có sau thực-thể-tự-tại, nó không lệ thuộc thực-thể-tự-tại, nó biệt lập (transcendant).
c/ nó không là nền tảng của nó (fondement de soi) nên luôn luôn thiếu hụt (manque) điều gì để là chính mình như thực-thể-tự-tại. Điều nó thiếu hụt chính là điều nó hư-vô-hóa: thực-thể-tự-tại. Thực-thể-tự-tại ám ảnh nó. Vì nó hư-vô-hóa chính mình, nó thiếu hụt… chính mình!
Ainsi cet être perpétuellement absent qui hante le pour‑soi, c’est lui‑même figé en en‑soi. C’est l’impossible synthèse du pour‑soi et de l’en‑soi: il serait son propre fondement non en tant que néant mais en tant qu’être et garderait en lui la translucidité nécessaire de la conscience en même temps que la coïncidence avec soi de l’Être en soi[55]. Như thế, cái thực-thể luôn luôn vắng mặt ám ảnh thực-thể-vì-mình, là chính nó đọng lại thành thực-thể-tự-tại. Đó là sự tổng hợp bất khả thi của thực-thể-tự-tại với thực-thể-vì-mình: nếu khả thi, thực-thể-vì-mình sẽ là nền tảng của chính mình, không với tư cách hư-vô mà với tư cách thực-thể, vừa giữ sự trong suốt cần thiết của ý-thức vừa trùng hợp với chính mình như thực-thể-tự-tại.
Còn tiếp
Phần 1, 2
Chú thích:
[41] Ludwig Feuerbach, Engels, Éditions Sociales, Paris 1966.
[42] Engels ghẹo Hegel như sau: […] Ý niệm tuyệt đối - cũng chỉ tuyệt đối vì ông tuyệt đối không có gì để nói với chúng ta về nó - […]. Ludwig Feuerbach, Engels, Éditions Sociales, Paris 1966.
[42] Tiểu tựa của L"Être et le Néant là: Essai d"ontologie phénoménologique, Tiểu luận về bản thể luận dựa trên hiện tượng luận. Hiện tượng luận là học thuyết của Husserl. Mới viết tiểu luận thôi mà đã nện độc giả hơn 700 búa tạ! Sartre mà viết đại luận, chết toi độc giả!
[43] Dịch văn đã khốn khổ, dịch triết càng khốn nạn…
[44] L’Être et le Néant, trang 34
[45] L’Être et le Néant, trang 33, 34
[46] l’Être est ce qu"il est là một luận điểm triết. il s"épuise à l’Être là… thơ! Nó đã là nó với định nghĩa của Sartre thì làm quái gì có khả năng "kiệt sức"! Văn phong của Sartre trong L’Être et le Néant có nhiều câu kiểu này khiến nhiều độc giả mê hồn.
[47] L"Être et le Néant, trang 44.
[48] De trop, khái niệm đặc thù Sartre, nội dung triết của một chương nổi tiếng trong La Nausée, chương Sartre tả một cái cây khủng khiếp, rễ mọc tràn lan, bao phủ tất cả, bóp nghẹt không gian. Sartre gửi cho Simone de Beauvoir một chiếc là khô, hỏi: lá cây gì vậy? Hè hè, triết gia...
[49] L’Être et le Néant, trang 46,47
[50] L"Être et le Néant, trang 58
[51] L’Être et le Néant, trang 58.
[52] L’Être et le Néant, trang 59.
[53] L’Être et le Néant, trang 61.
[54] L’Être et le Néant, trang 133.
[55] Khái niệm đặc thù của Sartre. Khá rắc rối. Đại khái: nó vừa là trung tâm quy nạp mọi vật thể trong thế giới vừa là chính ta, thực-thể-vì-mình, nó là nhịp cầu giữa ta và thế giới, giữa ta và tha-nhân.
|