|
Nực cười cho giải Nobel
Susan Salter Reynolds
Ngày nay, câu hỏi quan trọng nhất được đề cập đến là những yếu tố chính trị chi phối thế nào đến việc một nhà văn được Uỷ ban Nobel cân nhắc và lựa chọn. Đây là giải thưởng dành cho văn học hay chính trị? “Nó là một giải văn học, chứ không phải là một diễn đàn để người ta gửi đi những thông điệp chính trị”, nhà phê bình văn học Robert McCrum khẳng định.
Năm nay, những ứng viên của Nobel Văn học - giải thưởng được mong chờ nhất thế giới - đều đang ở đỉnh cao sự nghiệp: Tiểu thuyết gia Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk được kỳ vọng nhiều nhất với tỷ lệ cược 3-1, nhà thơ Syria Adonis - tên thật là Ali Ahmad Said (4-1), nhà báo Ba Lan Ryszard Kapuscinski (5-1), Joyce Carol Oates (6-1), Philip Roth (10-1)... Ở tốp dưới là các tác giả: nhà thơ Bắc Triều Tiên Ko Un, nhà thơ Thụy Điển Thomas Transtromer, tiểu thuyết gia Milan Kundera, Thomas Pynchon, Margaret Atwood, John Updike, Julian Barnes, Paul Auster và cả ca sĩ, nhà soạn nhạc Bob Dylan với tỷ lệ 500-1.
Kết quả cuối cùng sẽ công bố vào một ngày không xác định, không lâu sau khi các giải Nobel khác được công bố - bắt đầu từ tuần này. Nhưng chắc chắn sẽ có nhiều lời càu nhàu quanh giải thưởng. Những năm gần đây, đã có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng, Nobel Văn học là một “trò đùa” (nói như Roger Straus, đồng sáng lập NXB Farrar, Straus và Giroux) hay là “bí ẩn lớn” (một từ “ngoại giao” hơn mà Charles McGrath, cựu biên tập viên tờ New York Times Book Review đã dùng). Thập kỷ qua là một thập kỷ đầy khó khăn đối với giải thưởng có giá trị hấp dẫn này - 1,4 triệu USD - trong việc giữ cho các cuộc tranh cãi không nổ ra ngay khi quyết định cuối cùng được công bố.
 |
| Pamuk được đặt cược với tỷ lệ 1 ăn 3. |
Năm ngoái, nhà phê bình văn học London Robert McCrum than thở rằng Nobel Văn học ngày càng mất đi sự trong sáng. Theo ông, năm 1997, giải thưởng được trao cho nhà viết kịch người Italy Dario Fo đã khiến cho “gần như cả thế giới mất tinh thần”. Còn sự tôn vinh dành cho nhà thơ, nhà viết kịch người Trung Quốc Cao Hành Kiện năm 2000 là “một thất bại”. Năm 2004, giải thưởng thuộc về tay Elfriede Jelinek - tác giả của những trang văn không đáng đọc - càng gây tranh cãi gay gắt hơn, đến độ Knut Ahnlund - một trong 18 thành viên của Viện Hàn lân Thuỵ Điển - đã quyết “dứt áo ra đi” để bày tỏ thái độ phản đối. Ahnlund viết trên tờ Svenska Dagblat: "Sự thoái hoá, xúc phạm, báng bổ, căm phẫn, ác dâm, khổ dâm là những chủ đề chính trong tác phẩm của Elfriede Jelinek. Tất cả những phương diện khác của con người đều không được đề cập đến”.
Ahnlund buộc tội Horace Engdahl, chủ tịch Uỷ ban Nobel từ năm 1999, là người “phá huỷ dây thần kinh tự trọng của dân tộc”. Tạp chí The New Criterion phụ hoạ theo bằng cách gọi việc trao giải cho Jelinek là sự lựa chọn "một tầm thấp mới" và rằng, Nobel Văn học 1993 dành cho Toni Morrison là sự phân phát, mang tính chất an ủi, chỉ tổ hạ giá giải thưởng mà thôi.
Engdahl, người chỉ đáng một câu học sinh ở tuổi 57 nếu như so sánh với các đồng nghiệp của mình trong Uỷ ban Nobel, dường như lại tỏ ra thích thú với thứ tai tiếng này, bởi ông thường xuyên nhắc đến nó như là nhắc đến một nỗi đau. Tại sao họ ghét ông đến vậy?
Engdahl từng phát biểu, rằng ông muốn mở rộng tầm nhìn, mở rộng phạm vi giải thưởng, rằng giải Nobel Văn học cũng cần phải được phát triển rộng ra cùng với sự phát triển của văn học. Một số người quan tâm đến giải thưởng đã coi chủ trương mở rộng đó mang ý nghĩa tạo một hành lang cho các nhà báo, các triết gia cùng được tôn vinh với các nhà văn trong một giải Nobel dành cho văn học (tương tự như Nobel dành cho Bertrand Russell năm 1950, Winston Churchill, 1953 và năm nay, nhà báo Ryszard Kapuscinski đang có nhiều hy vọng với tỷ lệ 5-1).
 |
| Nhà thơ Triều Tiên Ko Un. |
Ngày nay, câu hỏi quan trọng nhất được đề cập đến là những yếu tố chính trị có ảnh hướng chi phối như thế nào đến việc một nhà văn được Uỷ ban Nobel cân nhắc và lựa chọn. Đây là giải thưởng dành cho văn học hay chính trị? “Nó là một giải văn học, chứ không phải là một diễn đàn để người ta gửi đi những thông điệp chính trị”, ông McCrum khẳng định.
Nhưng tạp chí New Criterion không tin vào điều đó. Theo họ, càng ngày, giải thưởng càng được trao cho những người có giới tính đúng đắn, lai lịch đúng đắn và hồ sơ chính trị đúng đắn. Còn thế nào là “đúng đắn” thì các thành viên Uỷ ban Nobel Viện Hàn lâm Thuỵ Điển sẽ quyết định
Một bài tiểu luận dài trên New Yorker đã dẫn lời Mats Gellerfelt, nhà phê bình văn học người Thuỵ Điển cho rằng: “Ứng viên lý tưởng cho Nobel hôm nay nên là một lesbian (đồng tính nữ) người châu Á”.
Người ta thường dẫn ra hai ví dụ: giải thưởng dành cho nhà thơ Ba Lan Czeslaw Milosz năm 1980 - thời điểm Phong trào Thống nhất Ba Lan được hình thành và giải thưởng dành cho William Butler Yeats năm 1923 - một năm sau khi Ireland giành độc lập - để chứng minh hiện tượng chính trị hoá giải thưởng văn học này.
Nhà viết kịch Anh Harold Pinter, người từng rất ngạc nhiên khi biết mình đoạt giải vào năm ngoái, cũng tin rằng, ông giành được vinh quang là nhờ vào các hoạt động chính trị hơn là thành quả của 29 vở kịch. Trước đó, Pinter đã từ chối tước hiệp sĩ do cựu thủ tướng Anh John Major ban tặng, nhưng ông đón nhận giải Nobel một cách đầy khấp khởi. Nhìn vào bức ảnh chụp sau cú ngã tại Ireland, với gương mặt đầy máu me và sợ hãi, trông ông vẫn như một tên cướp biển hạnh phúc.
Tác phẩm của ông ngả về cánh tả một cách không nao núng. Gần đây, ông còn gọi Tổng thống Bush là “kẻ giết người hàng loạt” và thủ tướng Blair là “thắng ngốc bị xỏ mũi”, đồng thời lên tiếng chỉ trích cuộc chiến tranh tại Iraq.
Bất luận là căn cứ vào tiêu chí gì thì cũng đã có quá nhiều cây đại thụ của nền văn học thế giới không được trao tặng giải thưởng cao quý nhất. Các nhà phê bình đã dẫn ra những “sự bỏ sót to đùng” như Leo Tolstoy, James Joyce, Virginia Woolf, Franz Kafka và Marcel Proust. Boris Pasternak và Jean-Paul Sartre đều từ chối nhận giải thưởng, dù sau khi Sartre qua đời, họ hàng của ông đã rút lại lời từ chối để vớt vát tiền thưởng. Yêu cầu này đã bị từ chối.
(Trong khi đó, suốt một thập kỷ nay, cả đất nước Bắc Triều Tiên kiên nhẫn đặt hy vọng vào nhà thơ hàng đầu Ko Un, để rồi mỗi năm nhận thêm một niềm thất vọng nho nhỏ, rồi cam chịu và lại dưỡng nuôi niềm hy vọng chan chứa cho những thập kỷ sau).
 |
| Ứng viên Adonis. |
Có chút gì đó được coi như là chiêu thức nịnh bợ (hay đơn giản chỉ là cách bày tỏ lâm ly) khi một số nhà văn thể hiện khát vọng được Nobel vinh danh. Các nhà văn Mỹ, trong đó có Norman Mailer, Updike và Oates là những người thường được đánh giá là hay sử dụng thủ thuật này. (Nhà thơ Chile Pablo Neruda còn “thèm muốn” Nobel Văn học đến nỗi, ông công khai “bao” các nhà văn, nhà phê bình và học giả Thuỵ Điển những kỳ nghỉ xa xỉ tại biệt thự nằm bên bờ biển của mình). Trong những trang mở đầu cuốn The Prisoner of Sex (1971) của Norman Mailer, ông tự miêu tả mình là một nhà văn mà sau “21 năm sống cuộc đời sôi động” chỉ ao ước thêm được tiền tố "FNPW" (Famous Nobel Prize Winner - nhà văn Nobel nổi tiếng) vào tên của mình.
Douglas Messerli, làm việc tại NXB Green Integer, từng ấn hành rất nhiều tác phẩm của các nhà văn được coi là ứng viên của giải Nobel. Năm nay, trong kế hoạch xuất bản của họ có 2 tác giả: Adonis (Ali Ahmad Said) và Ko Un. Adonis, sinh năm 1930, là một trong những nhà thơ Ảrập đầu tiên viết về tình dục và tình yêu một cách trực diện. Tác phẩm của ông cũng ẩn chứa nhiều thông điệp chính trị.
Đây là lần thứ ba ông được cân nhắc cho giải Nobel và năm nào Messerli cũng chuẩn bị sẵn tinh thần để in nối bản, bất kể giải thưởng về tay Adonis hoặc Ko Un.
"Chúng tôi sẽ in thêm khoảng 1.000 bản gì đó” - 1.000 chứ không phải là hàng triệu như là những đợt phát hành ồ ạt mà những cuốn sách đoạt giải Man Booker mang lại. Vì sao? Bởi chúng mang nặng chất văn học và vì chúng là thơ.
Tác phẩm đoạt giải Nobel Văn học - một trong những giải thưởng giá trị nhất mà một nhà văn có thể giành được - lại là những sáng tác ít tính thương mại nhất trên thế giới. Chắc là Alfred Nobel, người đã dành cả đời để chế tạo ra thứ vĩ khí có sức huỷ diệt kinh khủng, cũng phải thừa nhận đây là sự mỉa mai nho nhỏ.
H.T. dịch
(Nguồn: latimes)
|