Đời sống văn nghệ

Thứ bảy, 09/09/2006, 09:21
 

Quá trình Mỹ hoá của nhà văn Ha Jin

 Doug Most

Khi viết về Trung Quốc, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình, Ha Jin (Cáp Kim) là một tiểu thuyết gia vĩ đại. Nhưng liệu ông có gặt hái được những thành công tương tự khi chuyển sang đề tài về nước Mỹ - nơi ông đã sống suốt 20 năm qua.

Mỗi mùa hè, Khổng Lâm lại về làng Ngỗng để ly dị vợ là Thục Ngọc.

7 năm qua, dòng đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết ăn khách Đợi chờ đã góp phần định dạng rõ sự nghiệp cầm bút của Ha Jin - một giáo sư dạy viết văn tại Đại học Boston có vẻ ngoài nhút nhát. Nhà văn bỏ lại vợ con ở Trung Quốc năm 1985 để đến Mỹ hoàn thành bằng tiến sĩ văn học này cũng từng định hồi hương, nhưng rồi ông ở lại. Đó là quyết định đau lòng nhưng đã khởi đầu cho một sự nghiệp lỗi lạc.

Câu văn viết về Khổng Lâm trong cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ha Jin được trích trên đây không chỉ mang đến một nhân vật văn học - vị bác sĩ mang nỗi buồn của 18 năm không ly dị nổi người vợ ông không hề yêu thương - mà còn giới thiệu về một nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc tài năng, tác giả của những trang viết bằng tiếng Anh đẹp đến nỗi không ai ngờ ông lại ngắc ngứ đến vậy khi diễn đạt ngôn ngữ này bằng tiếng nói.

"Tôi làm việc trên trang giấy nhiều hơn”, Jin - người đã học tiếng Anh từ những năm ở độ tuổi 20 - cho biết. “Khi nói, tôi phải đưa ra những phản xạ ngay lập tức. Nhưng trên trang viết, tôi có thể trở đi trở lại và nghĩ đi nghĩ lại”.

Trở lại với những gì Ha Jin đã có. Ông là một nhà văn có bút lực dồi dào: xuất bản 4 cuốn tiểu thuyết, 3 tập truyện ngắn và 3 tập thơ trong vòng 2 thập kỷ sống tại nước Mỹ. Tất cả đều bằng tiếng Anh. Với hai giải thưởng Văn bút Faulkner giành được, Ha Jin được xếp ngang hàng với những nhà văn như Philip Roth và John Edgar Wideman. Jin năm nay 50 tuổi, tóc đã muối tiêu và thường đeo cặp kính hình oval. Ông cao hơn 1m7, bụng nhỏ, dáng người khá đẹp. Ông có kiểu bắt tay nhẹ nhàng, dáng đi nhanh nhẹn nhưng không giấu nổi cảm giác hồi hộp khi tiếp xúc. Tuy bộc lộ khá rõ tầm vóc của một tiểu thuyết gia bao sân phạm vi đề tài rộng lớn, có thể viết từ những trang tục tĩu, dâm dục đến những dòng chữ dữ dội, bạo lực, đầy tính biểu tượng, nhưng tác phẩm của Ha Jin trước nay, dù bằng tiếng Anh, chỉ viết về Trung Quốc - mảnh đất ông hiểu rõ nhất.

Cuốn tiểu thuyết thứ năm của ông - mà bản thảo đã được hoàn thành vào mùa đông năm ngoái, dự tính phát hành vào năm sau - sẽ là tác phẩm đầu tiên viết về nước Mỹ, nơi ông đã sống 21 năm qua chứ không phải là Trung Quốc, nơi gắn bó với 29 năm đầu tiên trong cuộc đời ông. “Trái tim tôi không thuộc về nơi đó nữa (ý chỉ Trung Quốc), bây giờ nó ở đây” (Mỹ), nhà văn cho biết.

Nhà văn Ha Jin.
Nhà văn Ha Jin. Ảnh: boston globe.

Ha Jin luôn có thái độ thờ ơ với văn hoá bình dân Mỹ. Ông không màng đến TV, không nhớ nổi bộ phim mới nhất mà mình đã xem và cầu thủ bóng rổ đầu tiên của đội bóng Boston Celtics mà ông nghĩ đến là Larry Bird. Điều này giải thích vì sao ông phải mất đến 6 năm ròng để hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới nhất A Free Life (Một cuộc đời tự do). Ông viết chậm lại để còn dành thời gian cập nhập những thứ trần tục, thậm chí là tầm thường trong đời sống văn hoá Mỹ - một thử thách mà nhà văn không bao giờ gặp phải như khi ông viết về quê hương. "Những cuốn tiểu thuyết trước đây của tôi đều viết về Trung Quốc, về những điều tôi hầu như chắc chắn. Tôi phóng bút một cách thoải mái. Nhưng bây giờ, tôi liên tục phải tham khảo mọi nơi, mọi chỗ. Ví như, anh không thể dùng từ Wal-Mart [1] tại những khu buôn bán ở Boston. Tôi phải để ý, phải tra cứu rất nhiều để đảm bảo cho nhân vật của mình đủ sức thuyết phục”, nhà văn kể.

Chính điều đó đã dấy lên trong ông những nỗi lo lắng, băn khoăn về phản ứng của độc giả đối với cuốn sách. “Tôi hy vọng, nó sẽ được đón nhận như một cuốn tiểu thuyết Mỹ”, ông nói với một giọng tiếng Anh ngọng nghịu. “Nếu tác phẩm thiếu hấp dẫn, nghĩa là tôi đã thất bại trong lần chuyển hướng sáng tác này”.

Tất nhiên, không ai muốn điều đó xảy ra. “Chúng ta đừng lo lắng gì nhiều về việc Ha Jin viết về nước Mỹ hay về bất cứ chủ đề nào mà ông đã chọn”, nhà văn Leslie Epstein - chủ nhiệm chương trình viết văn tại Đại học Boston, người đã phát hiện ra tiềm năng của Ha Jin khi nhận ông làm sinh viên dự thính và sau đó mời ông trở lại giảng dạy tại đại học này - nhận xét. “Tác phẩm đỉnh cao vẫn còn ở phía trước”, ông nói.

Có lẽ, cảm giác thiếu tự tin của Jin phản ánh rõ những thách thức mà các nhà văn lưu vong từ Vladimir Nabokov đến Chang-rae Lee từng đối diện khi vừa phải nỗ lực nhập thân để hiểu nước Mỹ vừa không để đánh mất lợi thế của người sở hữu cái nhìn từ bên ngoài nền văn hoá này.

Don Lee, một tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Hàn cho rằng, Ha Jin mang dáng dấp của một nhà văn châu Á hơn là một nhà văn Mỹ gốc châu Á. Và điều đó khiến cho quá trình chuyển hướng của ông gặp nhiều khó khăn. “Nhìn vào nền văn học của các nhà văn Mỹ gốc châu Á ngày nay, có thể thấy nhiều nhà văn đã rời bỏ những đề tài chính trị hay chủng tộc. Họ cảm thấy họ đã viết đủ nhiều về những đề tài đó. Họ muốn được nhìn nhận, trước hết như một nhà văn và sau đó là một nhà văn Mỹ gốc châu Á”.

Nếu Jin làm được điều đó. Nếu ông có thể chứng minh cho độc giả Mỹ thấy rằng, một người đàn ông trung niên Trung Quốc từng phục vụ trong lực lượng giải phóng quân ở độ tuổi vị thành niên, một người vất vả học tiếng Anh, một người 30 tuổi mới đến nước Mỹ vẫn có thể sáng tác được cuốn tiểu thuyết đậm chất Mỹ, thì đó là thành công lớn. Thành công còn lớn hơn cả Đợi chờ. Nhưng sẽ ra sao nếu đó là một thất bại?

“Bất cứ lúc nào, bất cứ cuốn sách nào cũng có thể thất bại. Anh phải mạo hiểm. Tôi không nghĩ nhiều về độc giả. Nếu thất bại, tôi muốn đó là một thất bại lớn”, nhà văn khẳng định.

Trước khi có một Ha Jin trưởng thành, chúng ta cần biết chút ít về cậu bé Kim Tuyết Phi. Kim Tuyết Phi sinh năm 1956 tại Liêu Ninh. Năm 7 tuổi, vì mẹ ông thường xuyên phải đi làm xa nhà, bố ông - một sĩ quan quân đội - phải gửi ông vào trường học nội trú. Ông học ở đây trong 2 năm, cho đến 1965. Năm sau, Mao Trạch Đông cho đóng cửa các trường học, cấm xuất bản tất cả các đầu sách mới và ra lệnh phá huỷ các đền đài cũ, đánh dấu sự mở đầu của cuộc Cách mạng văn hoá. Nhà văn từng phải chứng kiến những pho sách của bố ông bị thiêu trụi. Trường học bị đóng cửa, đồng nghĩa với việc, nhà văn biết đọc biết viết rất muộn. Năm 14 tuổi, Ha Jin khai lận tuổi và xung phong vào lực lượng giải phóng quân khi hay tin Nga sắp tấn công Trung Quốc. Tất nhiên, điều này không xảy ra nhưng nhà văn tương lai cũng đã trở thành một anh lính.

Năm 16 tuổi, Ha Jin mua cuốn tiểu thuyết kinh điển Trung Quốc đầu tiên. Nhưng để đọc hết một trang sách, ông phải đánh vần hàng giờ.

Chỉ khi vớ được một cuốn từ điển và học ngấu nghiến hàng giờ đồng hồ mỗi ngày, nhà văn mới có đủ vốn từ vựng để quay lại đọc cuốn sách. Tất nhiên, lúc bấy giờ tìm được một cuốn sách là vô cùng khó, với những người đóng quân ở biên giới Siberia, sách vở càng trở nên khan hiếm hơn. Một thời gian sau, ông được chuyển từ tiền tuyến về một căn cứ gần thành phố - nơi có nhiều cơ hội tiếp xúc với sách vở hơn. Ha Jin tìm thấy một bản sách Don Quixote và được bố gửi đến cho hai bài thơ cổ. Ông đọc đi đọc lại cho đến khi thuộc lòng từng chữ.

Năm 19 tuổi, Jin giải ngũ và trở thành một điện báo viên. Với công việc mới này, nhà văn có điều kiện đọc sách, học tiếng Anh qua radio với những chương trình giảng dạy những câu đơn giản như: "This is a table" (Đây là cái bàn) và "Long live Chairman Mao!" (Mao chủ tịch muôn năm).

Năm 1977, cuộc Cách mạng văn hoá chấm dứt và các trường học tại Trung Quốc được mở lại. Tuy nhiên, thời gian này, số lượng trí thức Trung Quốc đổ xô sang các nước phương Tây là rất lớn. Đối với những nhà văn tìm đến nước Mỹ, phải mất 10 năm họ mới có thể sáng tác được, vì đó là khoảng thời gian cần thiết cho việc học ngoại ngữ. Nhưng vào giữa thập niên 90, đã có một số lượng lớn hồi ký về những tháng ngày vật vã để tồn tại trong cách mạng văn hoá. Đó là Anchee Min (nhà văn sang Mỹ năm 1984) với Red AzaleaEmpress Orchid; Ji-li Jiang với cuốn Red Scarf Girl đoạt giải vàng - giải thưởng do các bậc phụ huynh lựa chọn. Sách của họ đắt khách tại Mỹ, nhưng được biết đến một cách rất mờ nhạt, thậm chí là bị cấm tại Trung Quốc.

Ngay cả Đợi chờ - cuốn sách đã được dịch sang tiếng Trung, cũng gặp phải thái độ rất kỳ thị của các nhà quản lý.

Khi chưa có định hướng gì rõ nét về sự nghiệp của mình, năm 1977, Jin trúng tuyển vào khoa Anh văn, Đại học Hắc Long Giang tại Cáp Nhĩ Tân. Trong 4 năm làm sinh viên ở đây, nhà văn miệt mài học tiếng Anh và phát hiện ra một bậc thầy văn chương Mỹ, sinh trưởng tại vùng Mississippi. "Tôi mê William Faulkner," Jin nói, "Tôi đã đọc tất cả những cuốn sách của ông”. Bút danh Ha Jin được nhà văn sử dụng về sau cũng được lấy từ địa danh Cáp Nhĩ Tân. Nhưng chỉ đến khi theo học tại Đại học Sơn Đông, cuộc đời nhà văn mới có bước ngoặt quyết định.

"Đó là lớp cao học”, Beatrice Spade, giáo sư lịch sử Đại học Colorado, người từng giảng dạy văn học Mỹ ở Sơn Đông nhớ lại: “Tất cả học sinh đều xuất sắc. Jin nói tiếng Anh tệ nhất lớp. Cậu ấy không giỏi về phát âm nhưng khi viết thì không ai giỏi bằng. Jin có trí thức, có khả năng viết, có tất cả, chỉ chờ cơ hội để thành công”.

Và điều đó đã xảy ra, tại Sơn Đông. Nơi đây, khi tốt nghiệp cao học, ông gặp gỡ một giáo viên dạy toán, về sau trở thành vợ ông. Cũng tại nơi này, ông đã nghe theo lời khuyên của những học giả Mỹ như Spade rằng nên tìm cách đi du học tại các nước phương Tây - một việc làm mà chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ cũng khuyến khích, miễn là ông để lại vợ Lisha Bian và con trai, như một thứ bảo tín đảm bảo cho sự hồi hương sau này của ông.

Trong thời gian này, nhà văn cũng được nghe kể câu chuyện về một bác sĩ người Trung Quốc phải mất 18 năm mới ly dị được vợ. Jin tự nhủ: “Đây là cái tứ tốt cho một tác phẩm hay, mình sẽ viết một cuốn tiểu thuyết dựa trên câu chuyện này”.

Tháng 8/1985, chàng trai 29 tuổi Ha Jin đã đặt chân đến Logan (Mỹ) và đi thẳng đến Waltham, nhập học tại Đại học Brandeis. Rời xa Trung Quốc là một quyết định khó khăn, bởi lẽ ông sẽ phải sống xa vợ và đứa con trai chỉ mới chập chững học đi. Nhưng ông dự định là sau khi hoàn thành luận văn tiến sĩ ngành thơ ca hiện đại, có bằng cấp trong tay, ông sẽ về nước. Trong thời gian theo học tại đây, ông làm mọi việc, từ bồi bàn, giúp việc, thậm chí là cả bảo vệ ca đêm. Năm 1987, Bian để con trai lại cho ông bà ngoại nuôi và sang Boston với Jin. Rồi một ngày mùa xuân năm 1989, sinh viên, trí thức và các nhà hoạt động xã hội do thất vọng trước chính phủ đã tổ chức biểu tình tại Thiên An Môn. Từ căn hộ của mình tại Boston, Jin và Bian nhận ra rằng, trong lúc họ an toàn ở đây, cậu con trai Wen đang gặp nguy hiểm tại quê nhà. Hai vợ chồng tìm mọi cách để đưa được con trai sang Mỹ. Thật kỳ diệu, những đơn thư của nhà văn đã được chấp nhận. Cậu bé được cấp visa và gia đình nhỏ của họ được đoàn tụ.

Cậu bé mới chỉ 5 tuổi và đã 2 năm không gặp mẹ, 4 năm không gặp bố. Hai vợ chồng đón con ở sân bay San Francisco vì đứa trẻ không thể tự mình quá cảnh. “Nó là người cuối cùng ra khỏi máy bay và chỉ nhận ra mẹ chứ không nhận ra bố”, Bian kể. Bây giờ Wen 23 tuổi và đã tốt nghiệp cử nhân lịch sử tại Đại học Chicago.

Quyết định ở lại Mỹ, Jin bắt đầu tập trung tạo dựng sự nghiệp cho mình. Khoảng năm 1990, ông xuất bản tập thơ đầu tay và tham gia một số chương trình học viết văn tại Đại học Boston. Sau khi lấy được học vị tiến sĩ tại Đại học Brandeis, ông cùng gia đình chuyển đến Atlanta và làm giảng viên thơ ca tại Đại học Emory. Nhà văn sống và làm việc tại đây cho đến khi Epstein, người bạn và là người thầy của nhà văn mời ông về Boston dạy học.

Tập truyện ngắn đầu tiên của Ha Jin - Ocean of Words (Biển chữ) đoạt giải Văn bút Hemingway dành cho tác phẩm đầu tay năm 1996. Năm sau, ông được nhập quốc tịch Mỹ và bắt tay vào viết Đợi chờ.

Thành công của Đợi chờ - tiêu thụ được gần 500.000 bản và đoạt giải National Book - đồng thời cũng mang đến áp lực. Cuốn sách thứ hai cũng viết về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của nhà văn - War Trash (Rác chiến tranh) - một tác phẩm hư cấu dưới dạng hồi ký về một tù binh người Trung Quốc tìm cách thoát khỏi cuộc chiến tranh Triều Tiên.

Chỉ riêng vấn đề được nói đến trong cuốn sách cũng đủ đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ không chào đón ông trở về. “Tôi là kẻ sinh sự. Tôi là tác giả của những cuốn sách làm chướng tai gai mắt những nhà cầm quyền”, nhà văn nói.

Nhưng Ha Jin không thể tưởng tượng được là mình sẽ viết về lịch sử Mỹ, về chiến tranh Việt Nam và những đề tài khác. Ông phải viết về những gì mà ông biết rõ. Đó là Trung Quốc. Và giờ đây là nước Mỹ.

Cảm hứng cho A Free Life đến từ một người bạn của Ha Jin - Jennifer Rose, một nhà văn người Waltham. Nhiều năm về trước, khi còn là sinh viên cao học, bà đã kể cho Jin nghe câu chuyện về một người đàn ông Trung Quốc lăn lộn sống tại nước Mỹ. Dù đã trở thành ông chủ của một nhà hàng nhưng anh này vẫn nuôi ước mộng trở thành nhà thơ. Ha Jin rất cảm động trước câu chuyện đó. Nhưng khi ông kể cho tôi nghe lại cốt truyện về nhân vật Nan Wu một cách chi tiết, tôi không thể không liên tưởng đến chính nhà văn - một người đàn ông đến Mỹ, mơ trở thành nhà thơ, sống ở Boston và làm việc cật lực để nuôi sống gia đình. Tôi hỏi ông, liệu đây có thể coi là một cuốn tự truyện, nguỵ trang trong hình thức tiểu thuyết, ông cười: “Anh ta quay về Trung Quốc còn tôi thì không bao giờ. Tôi may mắn hơn anh ta. Đây là cuốn sách về giấc mơ Mỹ, một ngôi nhà và hai chiếc xe hơi”.

Bên cạnh những áp lực do “hội chứng cuốn tiểu thuyết thứ hai”, Ha Jin còn có một mơ ước: “Tôi coi mình là một nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Tôi cần tạo nên một gạch nối. Tôi đã sống tại Trung Quốc 29 năm trước khi chuyển đến đây. Tôi không thể đánh mất quá khứ của mình. Nhưng quốc tịch không phải là vấn đề quan trọng. Tôi muốn có những trang viết tuyệt vời về những trải nghiệm tại Mỹ”.

Thanh Huyền lược dịch

(Nguồn: Boston Globe)

 

[1] Các cửa hàng bán lẻ.

Các bài khác:
 

 
Tác giả Tôtem sói lộ diện
Góp ý với Y Ban về "I am Đàn bà"
Vi Thùy Linh từng mơ làm diễn viên điện ảnh
Nguyễn Ngọc Tư: 'Tôi điên không đều'
 
 
A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z
Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai
Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm
Ring - vòng tròn ác nghiệt
Mio, con trai ta