|
M. Bulgakov - nghệ thuật và số phận (phần 1)
Số phận, có nghĩa là hiện diện những chi phối nằm ngoài các quyết định chủ quan của con người (một người, một nhóm người hay cả một thể chế). Và, số phận, có nghĩa là trong cuộc sống tinh thần, lẽ công bằng trước sau rồi sẽ được thiết lập, đền bù, cho dù nhiều khi có muộn màng.
Vì vậy, nhắc đến M. Bulgakov tôi lại nhớ tới hai câu nói: "Habent sua fata libelli" (Các cuốn sách có số phận của mình) [1] và "Các bản thảo không cháy". Một của người xưa, một của chính M. Bulgakov. Hai câu đều vận đúng cuộc đời, văn chương của ông, mà không chỉ riêng ông - điều này đúng với tất cả những văn nghệ sĩ và tác phẩm đích thực lớn tự cổ chí kim.
*
Mikhail Afanasievich Bulgakov sinh ngày 15 tháng 5 năm 1891 tại thành phố Kiev. Bố ông là giáo sư tiến sĩ thần học, biết nhiều thứ tiếng. Mẹ ông cũng là người có học, con mục sư, trước khi lấy chồng từng dạy học. Mikhail là con cả, từ nhỏ thông minh, được học hành chu đáo. Năm 1916, sau khi tốt nghiệp xuất sắc chuyên ngành Y khoa đại học Tổng hợp Kiev, ông xin ra mặt trận của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất với tư cách người tình nguyện của Hội Chữ thập đỏ. Ít lâu sau ông bị gọi về Matxcơva và được cử đi phụ trách một bệnh viện nông thôn hẻo lánh ở Sưtrev. Từ đó bắt đầu những năm tháng chìm nổi của nhà văn tương lai qua các vùng Viazma, Vladikavkaz, Tiflix, Batưm, Kiev... Từng bị bắt buộc theo bọn phỉ Petlura, từng tham gia Hồng quân..., tháng 9 năm 1921, M. Bulgakov đến Matxcơva, sống và làm việc tại đó cho đến cuối đời.
Trong những năm đói khát và sôi động sau nội chiến, cũng như nhiều nhà văn khác vừa rời mặt trận đổ xô về Matxcơva - trong đó có cả những tên tuổi về sau là chủ soái trên văn đàn Xô viết như A. Phadeev và M. Solokhov - M. Bulgakov đã phải trải qua nhiều nghề để sống: thư ký Tiểu ban văn học của Tổng cục giáo dục chính trị, viết báo, theo đoàn hát rong, làm nhiều năm ở các báo Tiếng còi, Ngày hôm trước...
M. Bulgakov có thiên hướng văn học rất sớm - chín tuổi ông đọc Những linh hồn chết, rất thích văn trào phúng của Gogol, Saltưkov, Sedrin. Ông bắt đầu viết văn khi còn đang đi học; những năm nội chiến đã có một số vở kịch được diễn tại mặt trận. Trong thời gian làm báo, M. Bulgakov viết nhiều tiểu phẩm và truyện ngắn. Phần lớn tác phẩm của ông trong thời gian đầu này ngày nay không còn giữ được, một số bị chính tay ông đốt bỏ.
 |
| Nhà văn Mikhail Bulgakov. (Ảnh: ncf) |
Đầu năm 1925, phần thứ nhất tiểu thuyết Bạch vệ của ông ra mắt bạn đọc. Một nhà thơ hồi đó, M. Volosin, đã đánh giá như sau: "... Tôi thấy đây là một tác phẩm rất lớn và độc đáo; với tư cách là tác phẩm trình làng, chỉ có thể so sánh nó với sự ra mắt của Dostoyevsky và Tolstoy..."[2]. Ngay lập tức, nó được đề nghị chuyển thể thành kịch nói. Dựa trên cơ sở cuốn tiểu thuyết Bạch vệ, M. Bulgakov đã viết kịch bản Những ngày của anh em Turbin. Các tác phẩm này phản ánh khách quan quá trình tan rã của những mưu toan chống cách mạng và số phận bi kịch của tầng lớp trí thức Nga chọn lầm con đường lịch sử. Vở kịch được Nhà hát Nghệ thuật Matxcơva trình diễn thành công lớn, bắt đầu những ngày tháng lao động căng thẳng, những thành công vang dội. Cũng trong năm 1925, Bulgakov in các thiên truyện vừa Ổ quỉ, Những quả trứng định mệnh và viết Trái tim chó. Tuy vậy, được cổ vũ bởi thành công của Những ngày của anh em Turbin và sự chào mời của hàng loạt nhà hát, những năm tiếp đó M. Bulgakov tập trung vào viết kịch. Ông lần lượt cho ra đời các kịch bản: Căn hộ của Dôia (năm 1927, in năm 1928), Chạy trốn (năm 1928, dựng năm 1957, in năm 1962), Molier (năm 1929)... Bulgakov trở thành kịch tác gia Nga lớn nhất kể từ Chekhov. Nhưng vào thời đó xung quanh các tác phẩm của ông diễn ra những cuộc tranh luận quyết liệt. Gorky, Veresaiev, Stanislavxki... [3] đánh giá cao Bulgakov, nhưng những người phủ nhận ông nhiều hơn và quyết liệt hơn.
Theo lời nhà văn, trong một thời gian ngắn, trên báo chí đã xuất hiện 298 bài phê bình thù địch tác phẩm của ông, buộc tội ông đứng về phía Bạch vệ bôi nhọ cách mạng. Từ năm 1929, sau ý kiến Stalin cho rằng Chạy trốn là một hiện tượng chống Xô viết, hầu hết các vở kịch của Bulgakov bị cấm diễn. Sách của ông không được in, người quen lánh dần, tiền hết, không có việc làm, muốn xin làm người gác cổng cũng chẳng ai dám nhận. Trong cảnh cùng quẫn đó, ngày 28 tháng 3 năm 1930, M. Bulgakov gửi cho Chính phủ Xô Viết một lá thư: "... Tôi xin Chính phủ Liên Xô lưu ý rằng tôi không phải là một nhà hoạt động chính trị, mà là một nhà văn, toàn bộ sản phẩm của tôi, tôi đã trao cho sân khấu Xô viết (...) Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi có nghĩa là bị chôn sống (...) Nếu những gì tôi viết không đủ sức thuyết phục và tôi buộc phải chung thân im lặng ở Liên xô, tôi đề nghị Chính phủ Xô viết cho tôi việc làm theo nghề nghiệp ở nhà hát với tư cách đạo diễn (...) Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu..." [4].
Trong bức thư này nhà văn thông báo rằng cuốn tiểu thuyết vừa được bắt đầu viết về quỷ Satan (tức Nghệ Nhân và Margarita sau này) đã bị huỷ, và hứa từ nay ông sẽ im lặng, không viết nữa.
Hai mươi ngày sau, 18 tháng 4 năm 1930, tức là bốn ngày sau khi thiên tài V. Maiakovsky bắn vào đầu tự tử để lại bài thơ tuyệt mệnh và bức chúc thư Gửi đồng chí Chính phủ, Stalin đích thân gọi điện cho M. Bulgakov. Tổng bí thư trung ương Đảng hứa giúp đỡ nhà văn, hẹn sẽ trực tiếp gặp nói chuyện với ông. Khẩu súng lục đã chuẩn bị sẵn trong ngăn kéo, Bulgakov đem vứt xuống hồ ở công viên Novodevitre. Mấy ngày sau ông được nhận vào làm đạo diễn ở Nhà hát Nghệ thuật Matxcơva.
Quan hệ giữa Bulgakov và Stalin cũng như quan hệ của Stalin với những nhà văn Xô viết thời đó như Solokhov, Phadeev, Akhmatova, Platonov, Mandelstam, Pastenak... là một đề tài đặc biệt và sẽ được tiếp tục làm sáng tỏ. Stalin rất quan tâm đến những sáng tác của M. Bulgakov. Theo tài liệu lưu trữ của Nhà hát Nghệ thuật Matxcơva, Stalin đã xem Những ngày của anh em Turbin 15 lần, xem duyệt Căn hộ của Dôia không ít hơn 8 lần. Stalin đánh giá Những ngày của anh em Turbin đã chứng minh sự phá sản của phong trào Bạch vệ, còn về vở Chạy trốn thì gợi ý nó có thể được diễn nếu tác giả viết thêm một vài cảnh để làm rõ nguyên nhân thất bại của phe Bạch vệ. Nhưng nhà văn giữ lập trường nghệ thuật của mình, và Chạy trốn sau ba chục năm mới bắt đầu được dựng, được in thành sách, được quay phim...
M. Bulgakov chờ đợi và đặt nhiều hy vọng vào cuộc gặp gỡ với Stalin, nhưng nó đã không bao giờ diễn ra. Ngày 30 tháng 5 năm 1931, Bulgakov viết tiếp một bức thư để gửi Tổng bí thư trung ương Đảng Stalin. Bức thư viết: "Tôi xin thông báo rằng, sau một năm rưỡi im lặng, trong tôi có những dự định mới lại bùng lên với một sức mạnh không thể kìm nổi, những dự định đó rộng lớn và mãnh liệt, tôi xin Chính phủ tạo điều kiện cho tôi thực hiện chúng (...) Tôi có những dự định, nhưng không có sức lực, không có những điều kiện cần thiết để làm việc".
Nhà văn tự gọi mình là "con sói văn học duy nhất trên văn đàn Nga" (...) "Ngưười ta khuyên tôi nên nhuộm lông đi. Một lời khuyên vô nghĩa. Sói dù có nhuộm, có cắt lông đi thì nó vẫn không thể nào giống với chó cảnh nuôi nhà được".
"Người ta đối xử với tôi như đối với một con sói. Và đã nhiều năm nay người ta săn đuổi tôi như săn đuổi một con thú bị bắt nhốt vào trong khoảng sân rào kín theo các nguyên tắc của một cuộc đầu độc văn học.
Tôi không căm giận, nhưng tôi rất mệt, và cuối năm 1929 thì tôi gục. Bởi vì con thú cũng có thể mệt lắm chứ.
Con thú đã tuyên bố rằng nó không phải là sói nữa, không phải là nhà văn nữa. Từ bỏ nghề nghiệp của mình. Im lặng. Điều đó, xin nói thẳng ra, là hèn nhát.
Không có một nhà văn nào lại có thể im lặng được. Nếu anh ta im lặng, thì có nghĩa đó không phải là nhà văn chân chính.
Còn nếu nhà văn chân chính mà im lặng thì anh ta sẽ chết"[5].
 |
| Bulgakov và vợ - Elena Sergeevna . (Ảnh: middlebury) |
Những lời trên của M. Bulgakov nói lên cốt lõi quan niệm của ông về thiên chức của nhà văn, điều sau này ông đã thể hiện đầy đủ và trọn vẹn qua hình tượng Nghệ Nhân trong cuốn tiểu thuyết lớn nhất của mình. Cho đến cuối đời M. Bulgakov đã làm trọn thiên chức đó: ông không im lặng, ông sáng tác. Mặc dù từ cuối những năm 20 cho đến khi ông mất, và thêm cả gần một phần tư thế kỷ tiếp theo, ông không được in một dòng nào, hàng loạt tác phẩm của ông vẫn lần lượt ra đời: các vở kịch Adam và Eva, Đảo thắm, Niềm hoan lạc, Những ngày cuối cùng (Puskin), kịch bản chuyển thể Những linh hồn chết, Chiến tranh và hòa bình,... tổng số ông viết đến mười bốn vở kịch; văn xuôi có Molier (truyện danh nhân), Tiểu thuyết sân khấu (Những ghi chép của người quá cố), và tác phẩm bất hủ Nghệ Nhân và Margarita. Ông không "im lặng", mặc dù tiếng nói của ông bị bưng bít không đến được với công chúng. Nhưng "Các bản thảo không cháy", số phận nhà văn được định đoạt trên hết bởi nghệ thuật, - bởi tài năng và trách nhiệm trước Nghệ Thuật. Và từ năm 1962 bắt đầu sự "lớn tiếng" của M. Bulgakov. Trong vòng chừng dăm năm, với một số (chưa phải là tất cả!) tác phẩm được công bố, Bulgakov đã trở thành "hiện tượng" trong độc giả Xô viết và vượt ra biên giới ngoài nưước. Tuy nhiên, giới phê bình chính thống, các giáo sư vẫn chưa đánh giá cao ông. Phải đến thời "Cải tổ" cuối thập kỷ 80, Bulgakov mới thực sự hiện diện hết tầm cỡ của mình. Tất cả những gì ông viết ra đều được in đi in lại, nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài, đưa lên sân khấu. Đặc biệt, tác phẩm của ông có một sức hút ma quái đối với các nhà làm phim - hầu hết những tiểu thuyết, truyện vừa của ông đã được đưa lên màn bạc. Xuất hiện vô vàn các công trình nghiên cứu, các sách chuyên luận về sự nghiệp sáng tác của ông. Những nhà văn lớn nhất thế kỷ, từ Tr. Aitmatov đến Gabriel Marquez, đánh giá cao Bulgakov và thừa nhận ảnh hưởng lớn lao của ông đối với nhiều nhà văn trên thế giới.[6]
Ông mất lúc 16 giờ 39 phút ngày 10 tháng Ba năm 1940 vì bệnh xơ cứng thận, chưa qua nổi tuổi 49.
Sáng ngày hôm sau có điện từ văn phòng Stalin gọi đến...
Còn tiếp
---
Chú thích:
[1] Tiếng Latin, câu châm ngôn của Terentius Maurus, nhà ngữ pháp học La Mã đầu Công nguyên.
[2] Chuyển dẫn từ bài M. Bulgakov, thư từ và những chương trình tiểu thuyết, lời dẫn của M. Trudacova, tạp chí Thế giới mới, số 2 năm 1987.
[3] M. Gorky (1868-1936): nhà văn vĩ đại Nga Xô Viết; V. Veresaiev (1867-1945): nhà văn Nga nổi tiếng; K. Stanislavski (1863-1938): nhà đạo diễn cách tân vĩ đại của sân khấu Nga đầu thế kỷ XX.
[4] Trích Thư gửi Chính phủ Liên Xô.
[5] Trích từ M.A. Bulgakov, Tuyển tập tác phẩm năm tập, tập 5, Nxb Văn học, Matxcơva, 1990, trang 454.
[6] Theo V. Laksin, trong khoảng hơn hai chục năm từ khi "phát hiện" lại Bulgakov, số lượng công trình viết về ông chiếm kỷ lục so với bất kỳ tên tuổi nào khác trong thời gian gần đây. Có thể kể các tập sách của A. Ianovskaia, M. Trudacova, A. Amelianski (Nga); Lesli Mili, Endru Berrati, Juli Kurtis (Anh); Ellendea Proffer, Edit Hiber (Mỹ); Colin A. Rait (Canada); Ralf Sreder, Folkeea Levin (Đức); E. Bazzarelli, R. Juliani (Italy); Calpata Spchini (Ấn Độ); L. Haller (Hungari); A. Dravits (Ba Lan)... (Theo số liệu 1990 của Laksin).
|