Chân dung

Thứ sáu, 28/04/2006, 09:33
 

Con sên rơi xuống đất

Cảng Mạch

Nhà văn Lỗ Tấn. Ảnh: Tiền Phong
Nhà văn Lỗ Tấn. (Tiền Phong)

Tháng 10/1927, khi Lỗ Tấn cuối cùng đã dũng cảm hô vang “Ta đã yêu được rồi” ở Thượng Hải và sống chung với Hứa Quảng Bình thì Chu An, người phụ nữ hiền lành và đáng thương ấy, mới ý thức được rằng con sên trên tường kia không bao giờ có thể bò lên tới đầu tường được nữa.

1. Lần này tới Thiệu Hưng, mục đích chính của tôi là muốn đến thăm nhà cũ của Lỗ Tấn, bậc Đại sư văn học hiện đại mà tôi mong mỏi đã lâu. Hồi còn bé, những thú vị con trẻ và vẻ thần bí trong bài Từ vườn Bách thảo đến nhà sách Tam Muội đã in sâu trong tâm trí tôi. Cho đến thời thanh niên, khí phách lớn lao “Ta lấy máu ta dâng lên hoàng đế” của ông càng khích lệ tôi dũng cảm tiến lên trên con đường khám phá đời người, đó là việc nghĩa không thể quay đầu lại.

Nhưng sau một ngày tham quan và tìm kiếm, sau khi lẳng lặng suy nghĩ và gạn hỏi, cuối cùng tôi phát hiện ra sức chú ý của mình thực ra đã lặng lẽ chuyển khỏi vị chủ tướng của phong trào văn hóa mới Ngũ tứ từ lâu. Ở ngôi nhà lớn màu xám đen không hề gây chú ý ấy, ở một góc nhỏ từ lâu đã bị người ta bỏ qua hoặc quên lãng, tôi đã nhìn thấy một người phụ nữ, một phụ nữ bó chân, cài trâm, cuộn mình trong chiếc áo bông màu xám thẫm ngồi trước bàn trang điểm năm 1906, ngây người nhìn chữ Hỷ đỏ chói nhưng đã rách ở trên tường, thẫn thờ buồn bã.

"Tôi như một con sên, từ chân tường leo lên từng tý một. Tuy bò rất chậm, nhưng thế nào cũng có một ngày leo tới đầu tường".

(Lời bà Chu An, vợ cả nhà văn Lỗ Tấn)

Người phụ nữ ấy là vợ cả của Lỗ Tấn, tên là Chu An. Từ tấm ảnh cầm trong tay, tôi thấy bà vầng trán rộng, cặp lông mày đẹp duỗi dài, đôi mắt buồn buồn nhưng bình tĩnh, dường như bấy lâu nay vẫn lẳng lặng truyền cho những ai nhìn thấy đôi mắt ấy nỗi cô đơn, thanh vắng cùng sự cam chịu và đau khổ mà không ai biết cho. Bà lúc này đã bị gió cát tháng năm mài giũa cho trơn láng và khô khốc, bình thản và khiêm nhường.

Mỗi khi lo liệu xong cơm nước cho cả nhà, bận rộn và làm xong công việc gia đình cả một ngày, niềm vui lớn nhất và duy nhất của bà là được yên tĩnh ngồi bên mẹ chồng, sòng sọc hút mấy điếu thuốc. Thuốc hút bằng điếu ống là một thứ rất hay, chẳng những có thể làm tê dại thần kinh của bà, giúp bà quên đi nỗi bất hạnh của mình trong chốc lát, mà điều quan trọng hơn là nó có thể đưa bà trở lại thời thiếu nữ ngọt ngào, đầy ắp tình cảm êm đềm. Chỉ có trong hồi ức, bà mới dường như thực sự tìm thấy một chút gì đó thuộc về mình.

Năm 1906, cô gái gần ba mươi tuổi ấy cuối cùng đã có được lễ cưới mà cô khổ sở trông đợi trong bảy năm trời. Từ nhà mẹ đẻ ở ngõ Đinh Gia trong thành Thiệu Hưng, ngồi kiệu hoa trong tiếng đàn vui tai, trong tiếng chúc mừng của họ hàng bè bạn, theo tiếng pháo nổ đì đùng, cô từng bước vào cổng lớn bằng đã có hai cánh cửa sơn đen số 19 phường Đông Xương. Ngay giây phút bước qua cổng lớn ấy, cô vô cùng sung sướng và xúc động, bất giác mặt cô đỏ bừng lên bởi vì từ khi cô đi qua cánh cổng ấy, cô đã thực sự trở thành dâu nhà họ Lỗ [1], một phần tử không thể thiếu trong gia tộc sĩ đại phu phong kiến đã suy vi. Nhưng cô dâu hiền lành không hề biết chú rể đứng bên kiệu lúc này đang nghĩ gì. Nét mặt thoáng lo âu và thái độ nghiêm trang, thận trọng khi nói cười của chú rể dường như dự báo cuộc hôn nhân này là bất đắc dĩ và bất hạnh. Ngày thứ hai sau khi cưới, người ta không thấy cử chỉ thân mật như keo sơn của hai vợ chồng mới cưới như mong đợi. Ngược lại, bà Lỗ đã tinh ý kinh sợ khi thấy mắt con trai sưng mọng, mặt xám ngoét. Rõ ràng là nếu không khóc suốt đêm thì chú rể đã không phải ở vào trạng thái đó.

Cô dâu im lặng ngây người ngồi một bên. Bây giờ cô đã biết, cái gọi là đám cưới mà cô ngày đêm tơ tưởng không hề đem lại niềm vui bất ngờ cho cô, càng không đem lại niềm hạnh phúc mà cô mong đợi. Một phụ nữ, nhất là một phụ nữ chín chắn thì hạnh phúc lớn của người ấy hẳn phải là có được người chồng của riêng mình, nhưng người đàn ông trước mắt, người đàn ông vừa kết hôn với cô rốt cuộc có thuộc về cô hay không đây? Lần đầu tiên tự đáy lòng cô nảy ra một chút nghi vấn như vậy. Cô dâu lúc này đã có dự cảm không tốt lành song cô vẫn có tâm lý chờ mong sự may mắn.

Chu An một chữ bẻ đôi cũng không biết, chẳng hề nghĩ và cũng không thể nghĩ được rằng tình cảm giữa cô và Lỗ Tấn đã tan tành như xác pháo trong lễ cưới, hoặc nói cho đúng hơn, giữa họ với nhau chưa hề có tình cảm gì gọi là tình yêu. Đám cưới của họ không hề là kết tinh của tình yêu thương mà chỉ là sự hiểu lầm nho nhỏ của lịch sử. Ở gia đình một đại gia phong kiến thường có sự tổ hợp quái dị như vậy.

3. Người gây nên sự tổ hợp quái dị ấy là bà mẹ Lỗ Tấn tên là Lỗ Thụy. Ở nhà họ Lỗ, kể từ ông nội của Lỗ Tấn là Chu Phúc Thanh mắc vào vụ án ở trường thi thì gia đình gặp nhiều tai họa. Bà Lỗ Thụy ở góa vào tuổi trung niên, cuối đời thì con chết trước, nhưng một loạt nỗi không may đó không khuất phục nổi người phụ nữ ra khỏi An Kiều Đầu, một vùng nông thôn ở Thiệu Hưng. Bà một mìmh nuôi dạy ba anh em Lỗ Tấn, đảm đương gánh nặng gia đình bên chồng. Chịu ảnh hưởng của bà và được bà nâng đỡ, nhà họ Chu cuối cùng đã làm xuất hiện một “linh hồn dân tộc Trung Hoa” là Lỗ Tấn, đồng thời còn sản sinh ra “Chu gia tam kiệt” về mặt lịch sử hiện đại Trung Quốc như giới sử học đặt tên cho.

Tôi dừng lại trước phòng ngủ của bà Lỗ Thụy rất lâu. Tôi cố sức hình dung ra nhất cử nhất động năm ấy của người mẹ vĩ đại trong gian phòng đơn sơ, thô kệch này. Trên giường bằng gỗ về phía nam, đến nay vẫn còn trưng bày giỏ kim chỉ mà bà dùng để vá may hồi ấy, trong đó có kéo, túi đựng phấn vẽ, túi kim, bàn là… Ở đây, từng mũi chỉ một, bà đã khâu nên một cuộc sống và tương lai cho nhà họ Chu, chuẩn bị cho hạnh phúc và niềm vui của con trai.

Năm 1899, Lỗ Tấn mười tám tuổi, học trường Thủy sư (hàng hải) Giang Nam ở Nam Kinh. Bà Lỗ Thụy bắt đầu lo liệu hôn nhân cho Lỗ Tấn. Bà cảm thấy con trai đến tuổi 18 cũng nên có gia đình riêng cho mình. Người xưa nói “thành gia, lập nghiệp, trị quốc, bình thiên hạ”, việc có gia đình bao giờ cũng đặt ở đầu mọi sự. Nàng dâu tương lai chính là Chu An. Chu An tuy chưa từng giáo dục nhà trường nhưng cô hiền hậu và thông minh, nết na, tính rất ôn hòa, lại giỏi giang chăm chỉ, nên được bà Lỗ Thụy rất yêu mến. Bà thường tự lấy làm may mắn, không ngờ mình lại chọn được vợ tương lai cho con trai tốt như thế.

Việc cưới xin vốn định vào năm 1901, như năm đó vừa hay ông nội Chu Phúc Thanh của Lỗ Tấn bất ngờ được tha. Bà Lỗ Thụy định cưới vợ cho con, sau đó đón bố chồng, hoàn thành ước mong là “song hỉ lâm môn”. Nhưng cuối năm ấy, nhờ có thành tích học tập xuất sắc, Lỗ Tấn đã tốt nghiệp loại ưu và được cử sang Nhật học tiếp. Lễ cưới đành phải lùi lại.

Năm 1906, Lỗ Tấn 26 tuổi, còn Chu An đã là gái gần 30. Bà Lỗ cảm thấy việc cưới xin không thể trì hoãn được nữa bèn nói dối là ốm, giục Lỗ Tấn đang ở Nhật phải về ngay. Tất nhiên Lỗ Tấn không biết đó là sự lừa dối tốt bụng, vội vàng trở về nhà. Đối với cuộc hôn nhân này, ngay từ đầu ông đã tỏ thái độ phản đối. Là một thanh niên tiến bộ, nhiều năm học tập xa nhà, không ngừng được tư tưởng mới hun đúc, ông không muốn tiếp nhận cuộc hôn nhân bao biện, nhưng từ nhỏ đến lớn, ông đều rất yêu quý mẹ. Nhiều năm sau, ông thổ lộ tâm lý về cuộc hôn nhân đó: “Tôi có một bà mẹ rất yêu tôi. Vì cảm kích tình yêu đó của bà, tôi đành phải làm việc mà tôi không hề tự nguyện”. Hôn nhân có thể gán ghép nhưng tình yêu thì chưa bao giờ có thể miễn cưỡng. Lỗ Tấn và Chu An là hai người xa lạ rất ít khi tiếp xúc và không có tiếng nói chung, nhưng một ngày của năm 1096 đã cùng bước bào động phòng được bà mẹ kỳ công bố trí. Từ ngày bước vào động phòng, họ bắt đầu thành vợ chồng, nhưng thực chất của cuộc hôn nhân này là đến ngày thứ tư sau ngày cưới, Lỗ Tấn đã lên đường trở lại Nhật. Liền trong ba năm sau đó, giữa hai vợ chồng không hề có một mẩu tin cho nhau. Cho tới năm 1919, trước khi đón mẹ và Chu An đến Bắc Kinh, hai vợ chồng mỗi người đều ở mỗi nơi, sống cuộc sống độc cư của nhà tu khổ hạnh. Lỗ Tấn từng thử kêu gọi trái tim mình thích Chu An nhưng mỗi lần cố gắng là một lần đổ công, đổ sức ra sông, ra biển, bởi vì tình yêu xưa nay đều phải nhờ có sự giao lưu tâm linh mới có thể nhen nhóm được đốm lửa. Nhưng hai người lại ở hai cực của lĩnh vực tinh thần thì làm thế nào mà thực hiện được sự giao lưu về mặt tâm linh?

4. Tháng 10/1927, khi Lỗ Tấn cuối cùng đã dũng cảm hô vang “Ta đã yêu được rồi” ở Thượng Hải và sống chung với Hứa Quảng Bình thì Chu An, người phụ nữ hiền lành và đáng thương ấy mới ý thức được rằng con sên trên tường kia không bao giờ có thể bò lên tới đầu tường được nữa. Sau khi cố gắng đến sức mòn, lực kiệt, con sên rơi xuống đất nằm bẹp ở đó, không còn tinh thần và không có ai giúp đỡ, chỉ vô vọng ngước nhìn tường cao vòi vọi.

Về cuộc hôn nhân bất hạnh giữa Lỗ Tấn và Chu An, không ít người quy lỗi cho lễ giáo phong kiến, còn bất kể Lỗ Tấn hay Chu An, cả hai đều là nạn nhân. Giữa họ không có tình yêu nhưng số phận lại ghép họ thành chồng vợ. Vì là vợ chồng nên giữa họ phải có trách nhiệm, nghĩa vụ và hai người đã không hề thoái thác. Lỗ Tấn làm tròn nghĩa vụ chu cấp cho Chu An và rất tôn trọng nhân cách độc lập cùng địa vị của bà trong gia đình. Chu An ngoài việc hết sức làm tròn mọi công việc của người vợ thảo hiền, còn bầu bạn với mẹ chồng, không một lời oán thán trong suốt già nửa đời, tới lúc mẹ chồng mất ở Bắc Kinh mới thôi.

Phạm Tú Châu dịch từ Trung Hoa văn học tuyển san số 6/2006.

(Nguồn: Nhà văn)

Các bài khác:
 

 
 
 
 
   
A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z
Norman Mailer
Gabriel Garcia Marquez
Doris Lessing