Chân dung

Thứ ba, 03/01/2006, 08:35
 

Nhà văn Hòa Vang bình tĩnh đối diện với định mệnh

Nguyễn Hoàng Sơn

Cuối tháng 11 vừa rồi, tình cờ Hòa Vang đến chơi với tôi. Trưa ấy tôi đang nghỉ tại khách sạn Đại Dương (Hải Phòng), cùng với Chu Lai, nhân dịp về dự một cuộc Hội thảo văn chương do Hội Nhà văn thành phố Cảng tổ chức. Hòa Vang không dự Hội thảo, ông và nhà thơ Vân Long được một fan cho ôtô rước đi chơi, chỉ ghé qua bù khú.

Nhà văn Hòa Vang. Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Nhà văn Hòa Vang. Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Lâu lắm mới có dịp hàn huyên, chúng tôi hỏi thăm sức khỏe của nhau. Hòa Vang gập ngón tay chỉ vào bụng, điệu bộ rất kịch, bảo: tao có u rồi. Giọng nói thật thản nhiên.

Tôi nhìn lại hình dung cổ quái của ông: râu tóc sum suê đương độ “bán dâm” nhưng dày dặn, hai hàm răng thiên nhiên còn chắc chắn cả. Tướng ấy là chân thận cực tốt. Cứ nghĩ là Hòa Vang nói đùa, tính ông vốn thích đùa...

Hóa ra không phải chuyện đùa. Tuần trước, Chu Lai gọi điện cho tôi: hình như Hòa Vang vào viện K rồi, hỏi hộ xem nằm phòng nào để vào thăm. Sang Hội Nhà văn, hỏi Nguyễn Khắc Trường, cũng bảo chỉ nghe nói vậy...

Trưa hôm sau dùng bữa với Trịnh Thanh Sơn, Nguyễn Hòa Bình, Hoàng Minh Tường thì được thông báo chính thức: Hòa Vang đã được xác định là ung thư gan, ngày ngày đúng 6 giờ 30 phút chiều phải đến viện K để xạ trị, tiên lượng rất xấu... Thế là nháo nhào đến thăm.

Cái ngõ mang số 5, phố Quang Trung, Hà Nội vẫn ồn ào, đông đúc nhưng có vẻ mạch lạc, sáng sủa hơn thuở nào, khi tôi và Hoàng Minh Tường thường ghé qua đây uống rượu suông.

Một thiếu phụ áo hồng đương lúi húi bên ngõ, ngẩng lên, ngờ ngợ rồi gọi đúng tên tôi. Hóa ra đây là cô bé Trang ngày nào vẫn đi mua rượu cho bố tiếp bạn, nay đã là mẹ của hai đứa con.

Cô thứ hai, có cái tên ấn tượng, đẹp nhưng mang ý vị hài hước, Nguyễn Y Vân (nói lái, nghĩa là vẫn-y-nguyên!) nghe nói cũng đã trưởng thành. Tôi quen Hòa Vang hồi ông còn là cán bộ xưởng phim đèn chiếu, thỉnh thoảng có viết báo vặt và “sáng tác”... mồm. 

Xuất thân là một thày giáo rồi đi lính, lính chiến thật chứ không phải lính kiểng, một độ cả quyết bỏ cơ quan bám vỉa hè để sống, Hòa Vang có một vốn sống ngồn ngộn khiến bất kỳ cây bút nào cũng phải thèm muốn. Nhưng ông viết thật khó nhọc, khó nhọc vì kỹ càng, nắn nót quá?

Mỗi cái truyện, trước khi viết ra giấy thì hình như ông đã thuộc lòng trong đầu, tính đếm đến cả từng dấu chấm dấu phảy. Gặp bạn hữu, bên chén rượu, ông sốt sắng đọc cho nghe từng chương từng đoạn, ngân nga, nhấn nhá như thầy giáo giảng văn trên lớp, nhâm nhi từng câu từng chữ đắc ý. Rằng hay thì thật là hay nhưng cũng sốt ruột lắm!

Hoàng Minh Tường có lần bảo tôi, giá Hòa Vang cứ thủ sẵn một cái máy ghi âm trong túi, nói đến đâu ghi đến đấy rồi thuê người bóc băng, sao ra, thì hẳn tác phẩm xếp lại đã cao bằng đầu rồi!

Nhưng mỗi nhà văn có một cách làm việc riêng, chẳng ai dạy được ai. Hòa Vang vẫn thích đọc hơn thích viết, chăm ngồi... quán hơn là ngồi bên bàn. Bù lại, những gì ông in ra đều trau chuốt, ít nhiều có tiếng vang. Truyện ngắn Nhân sứ được Giải Nhì cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ (1991) là một cột mốc, đưa cái tên Hòa Vang đến với bạn đọc cả nước. Nên khi Hòa Vang cùng với nhà thơ trẻ Nguyễn Lương Ngọc làm cuộc đi bộ xuyên Việt, có làm lễ xuất phát tại Hội Nhà văn và được báo chí đưa tin thì dư luận rất chú ý.

Người ta vừa dõi theo bước đi của hai ông, vừa cười cợt bên bàn bia rằng chắc lâu lâu hai “ tướng” cũng phải... vẫy xe quá giang cho đỡ mỏi, những 2.000 cây số kia mà! Đùa là đùa vậy nhưng ai cũng cảm phục nghị lực và khát vọng văn chương của hai lữ khách đặc biệt này.

Chuyến đi, với Hòa Vang, phải chăng còn là cuộc hành hương tìm lại những vùng đất, những con người từng đùm bọc chở che ông những năm tháng chiến tranh ác liệt? Hòa Vang kể về cái bút danh tưởng như chẳng liên quan gì đến một cư dân sinh ra và lớn lên ở Hà Nội như ông.

Hồi ấy là năm 1972, anh lính Nguyễn Mạnh Hùng suốt ngày nằm hầm ở một gia đình cơ sở kháng chiến ở Quảng Trị, chuẩn bị cho một trận đánh lớn. Lạ một điều là bà mẹ chủ nhà cứ sờ sẫm quanh mấy quả đạn B40 để trong góc hầm và lẩm bẩm gì đó.

Cảnh giác, Hùng phải hỏi lại giao liên xem nhà này có đủ độ tin cậy không và được biết đây là cơ sở rất tốt đã nuôi giấu nhiều lượt quân ta. Hỏi, chứ mẹ nói gì với mấy quả đạn ghê gớm ấy?

Bà mẹ, vốn người Hòa Vang, Quảng Nam làm dâu Quảng Trị, có hai con đang trong đội ngũ binh lính Sài Gòn, bảo: mẹ cầu các “ ông” nhằm cho “thật” trúng đích! Câu trả lời khiến Hùng rùng mình.

Bao nhiêu bi kịch, bao nhiêu đau đớn trong lời cầu ấy, để những quả đạn bắn trúng những kẻ thủ ác nhưng vẫn có cơ may cho những ai bị bắt buộc đứng về phía đối phương.

Anh lính trẻ Nguyễn Mạnh Hùng nhất quyết lấy tên đất đã sản sinh ra bà mẹ can trường và đau khổ ấy làm bút danh theo đuổi nghề văn hằng ấp ủ...

Chậm rãi nhưng chắc chắn, Hòa Vang lần lượt cho ra đời những cuốn sách, tuy không gây được dư luận sôi nổi nhưng đều được đồng nghiệp ghi nhận ở công phu, ở chất văn.

Những cuốn sách mới nghe tên đã thấy nhọc nhằn: Tai quỷ (tiểu thuyết, 1993), Sự tích những ngày đẹp trời (truyện ngắn, 1996), Hiện tượng HVEYA (tiểu thuyết, 1998), Hạt bụi người bay ngược (truyện ngắn, 2005), Năm tháng và Mẹ (tiểu thuyết, 2006)...

Cuốn tiểu thuyết sau rốt này liệu có kịp đến tay ông trước bước đi khắc nghiệt của định mệnh? Biên tập viên Lê Hùng của Nhà xuất bản Thanh Niên đã nhận xét rất chính xác: “Văn của ông có đủ cung bậc của năm tháng đời người: những giờ phút hào hùng sôi động nhất của lịch sử, những éo le của số phận, những bất hạnh của con người và cả những niềm vui nho nhỏ của cuộc sống đời thường.

Đọc văn ông vừa cảm được giọng cười của ông: nó sảng khoái và đầm ấm, lắng kỹ lại có chút đắng cay chua xót của số phận”...

Tôi, Hoàng Minh Tường, Trịnh Thanh Sơn lại ngồi với ông trong căn phòng nhỏ từng chứng kiến bao bữa rượu nghèo của chúng tôi, căn phòng tuy đã được sửa sang, lên tầng nhưng vẫn còn sơ sài, chật chội lắm.

Hòa Vang thao thao kể lại bỗng dưng mình bị đau bụng thế nào, bạn bè giấu giếm nhưng mình đòi biết sự thật bằng được ra sao... Hồn nhiên, ông lật cái chăn, vén áo cho chúng tôi nhìn những vệt mực xanh chia bụng mình thành từng ô đều đặn phục vụ việc xạ trị...

Trịnh Thanh Sơn tặng một chai Ximirnov xanh đầy ắp, trong vắt. Ông cầm chai rượu, cảm ơn, ngắm nghía rồi đặt xuống chiếu, bảo: để bạn bè đến chơi, ai thích thì mời, mình kiêng từ hôm 24 tháng 11 kia. Kiêng hẳn. Có thèm không? Thèm lắm, nhưng bác sĩ dặn phải kiêng tuyệt đối.

Vợ ông, cô giáo Lan, nhẹ nhàng: Giá anh kiêng từ mươi mười lăm năm trước có phải hơn không, chỉ tại rượu... Ông từ tốn bác ngay: xin lỗi em, không thể đổ lỗi cho rượu được. Rượu đã cho mình bao nhiêu niềm vui, bao nhiêu cảm hứng. Chỉ có thể tự trách mình thôi.

Thương bạn, tôi bảo: Cứ uống đi, đằng nào cũng thế... Nhưng ông kiên quyết: Không thể buông súng đầu hàng sớm thế được! Mình nói với các bác sĩ: Tôi không có 108 triệu để thực hiện hai liệu trình hóa trị, nhưng tôi chấp nhận xạ trị và tuyệt đối kiêng rượu để “phối hợp” với các anh trong trận đánh này, biết đâu chúng ta sẽ thắng?

Giữa nhịp cười dường như bất tận, ông chợt sa nước mắt: Cuộc đời thế này, bạn bè thế này, tôi còn muốn sống chứ, chết bây giờ vô lý lắm... Vâng, vô lý thật, vài hôm nữa ông mới vào tuổi sáu mươi, trên còn bố già tròn tám chục phải phụng dưỡng, dưới còn con cái chưa yên mọi bề.

Rồi văn chương, bạn bè... Dường như không muốn chúng tôi chia tay trong bi lụy, ông quẹt mắt, cười bảo: Tớ phải thuyết phục bác sĩ cho dùng mooc-phin mỗi khi cơn đau nổi lên, tớ muốn lúc nào cũng thanh thản, tỉnh táo.

Nguồn: Tiền phong

Các bài khác:
 

 
 
 
 
   
A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z
Norman Mailer
Gabriel Garcia Marquez
Doris Lessing