|
Alphonse Allais - tiếng cười phi thời gian
Alphonse Allais gọt câu chữ thành những mũi dùi nhọn hoắt, đặc quánh, khiến người đọc đương nhiên chú trọng tới từng khoảnh khắc, tiếp nối trong một khoảng thời gian không quá năm ba phút. Vừa dễ hiểu vừa ngắn gọn. Đủ để ông nắm tay dẫn họ vòng ra đằng sau tấm màn che đậy chân tướng thói đời.
Trong quán rượu nằm ngay dưới chân nhà trọ Britannia cạnh ga Saint-Lazare, Alphonse Allais (1854-1905) đang phóng bút viết truyện phiếm thứ 1.681 cho tờ báo bấy lâu hằng nuôi sống mình, thì có đám bạn bè thân thiết tạt qua ghé thăm.
Giữa lúc chén thù chén tạc vui say với nhau, Alphonse Allais chợt nhọc nhằn đứng dậy, nâng cốc: "Nghe đây, nghe đây, xin cho các đại huynh hay là đệ sẽ ngủm mai này. Các huynh không tin à? Đệ thì đệ chắc là ngày mai mình ngoẻo". Nói đoạn, ông bải hoải ngồi xuống một cách khó khăn, tay chân bủn rủn, xám xịt mặt mày, giữa tiếng ồn ào huyên náo. Chẳng có một mống nào trong số bè bạn tỏ ra quan tâm tới lời nói của ông. Họ biết ông vốn quen thói đùa bỡn - ông chẳng là nhà văn trào phúng số một bấy giờ đó sao? Có giây phút nào mà ông lỡ dịp lên tiếng cười cợt, nhạo đời và nhứt là nhạo mình, đâu?
Homme de lettres
Thế rồi y như lời ông đã thốt ra, vào đúng 9h15 sáng hôm sau, ngày 28/10/1905, nhà văn u mặc, hài hước, hóm hỉnh và ngạo đời của chúng ta chẳng nói chẳng rằng thật sự nhắm mắt ra đi, như phủi sạch bụi đời, không nuối tiếc điều gì. Một bóng một mình trong gian phòng nhà trọ, để lại cho "thế gian này" vỏn vẹn 17 đồng tiền kẽm xác xơ và một sự nghiệp đến nay vẫn còn giòn giã tiếng cười. Kết thúc một cuộc đời nghèo túng, nhưng hết còn bận rộn với đất lề quê thói.
Alphonse Allais sinh ngày 20/10/1854 ở tỉnh lẻ, thành phố Honfleur nằm ven bờ biển Manche ở miền Bắc nước Pháp, trong một gia đình bán thuốc trị bệnh. Những tưởng sẽ nối nghiệp nhà, ngờ đâu ông lại rẽ sang cái nghề bạc bẽo là nghề viết lách, mà lại còn viết lách một cách độc đạo - độc đạo, với dấu nặng - khác người. Chắc vì thời nhỏ, ông nhiều lần được giáp mặt thi hào Charles Baudelaire (1821-1867), tác giả tập thơ Les Fleurs du Mal (Bông hoa tội lỗi), đã có công cách tân thi ca Pháp - người thường xuyên ghé qua tiệm mua thuốc cai nghiện. Allais còn chơi thân với Henri de Régnier (1864-1936) - một nhà văn, nhà thơ thuộc trường phái tượng trưng. Có điều là Allais không hề bị họ ảnh hưởng chút nào về mặt văn phong, mà lại đi theo một con đường khác hẳn, hiếm có trong nền văn học Pháp: ông viết văn khôi hài và trào lộng.
Lánh xa kệ thuốc, Alphonse Allais dõi theo con đường hồ như vạch sẵn cho mình. Để tức khắc trở thành homme de lettres, trở thành một thứ nhà văn nhà báo hằng ngày lên lời châm chọc và gây cười thiên hạ, qua một loại hình ngày càng đông đảo độc giả bấy giờ tha thiết đòi đọc - họ chán ngấy thứ văn chương hàn lâm ngự trị trong mớ tác phẩm trình làng. Đánh trúng tâm lý thích hợp với tính khí của mình, ròng rã suốt một phần tư thế kỷ ngày nào Allais cũng cặm cụi viết đầy hai trang, đúng khổ loại truyện phiếm ngắn gọn mà báo chí khẩn khoản yêu cầu để cung ứng cho độc giả.
Lần đầu gom góp in thành sách, ông đặt cho nó một cái tựa biểu hiện rõ rệt văn khí của ông: A se tordre (Cười tràn hông, 1891). Rồi tiếp theo là trên dưới 15 tác phẩm cùng một phong cách, cùng một nhịp điệu, cùng một giọng cười, dầu là qua thể loại đoản văn, truyện dài (tác phẩm độc nhất, nhan đề là l’Affaire Blaireau - Vụ ngài Blaireau, 1899) hay kịch bản.
Trào lộng
Nhưng sở trường của Alphonse Allais chủ yếu thể hiện qua loại biếm họa có nét mực gãy gọn: truyện phiếm hai trang như vừa nhắc tới trên. Do báo chí đặt hàng, ông cứ đúng hẹn mà giao bài cho họ và cho chính mình (ông cũng là chủ báo) mỗi ngày. Các bài này cuối cùng gộp thành một khối khổng lồ, đếm có hơn 1.680 câu chuyện biểu hiện tinh thần chủ đạo của nguyệt san Le Chat Noir (Hắc miêu - mèo đen tượng trưng cho tính cách rình rập vồ mồi) do ông sáng lập năm 1885 và điều khiển một thời gian dài: vừa chua cay châm chọc vừa độc địa mỉa mai, nó vồ lấy và tức thì vô hiệu hóa đối tượng bị nhắm tới.
Alphonse Allais gọt câu chữ thành những mũi dùi nhọn hoắt, đặc quánh, khiến người đọc đương nhiên chú trọng tới từng khoảnh khắc, tiếp nối trong một khoảng thời gian không quá năm ba phút. Vừa dễ hiểu vừa ngắn gọn. Đủ để ông nắm tay dẫn họ vòng ra đằng sau tấm màn che đậy chân tướng thói đời. Tính khí trào lộng khôi hài và giễu cợt của ông không bỏ qua một địa hạt nhỏ nhặt nào liên quan tới con người, tới xã hội. Ông hết lời cảm phục Thượng đế đã tạo cho mình cơ hội đó: "Thượng đế tài giỏi thật, đã cho chúng ta sinh ra rồi mới chết; không thôi thì đố có biết chuyện đời trên thế gian này nó ra làm sao".
Nhờ vậy mà trong thời gian ngắn ngủi sống trên đời (ông thọ chỉ có 56 tuổi), ông luôn hối hả góp ý về bất luận việc gì dính tới "thế gian này". Chẳng hạn như bày cách chữa bịnh sưng họng cho loài hươu cao cổ; chế tạo chậu nuôi cá e lệ rụt rè bằng kính đục để cho cá khỏi bị thiên hạ dòm ngó; cổ xúy tiết kiệm ngân sách nhà nước bằng cách dùng đom đóm thay cho đèn điện; đề nghị tránh hiểm nguy đường biển bằng cách dùng mùi thơm làm tín hiệu thay cho ánh sáng mỗi khi ngọn hải đăng bị sương mù che phủ... Còn con sông Loire ghe thuyền thường hay mắc cạn, thì sao lại không biến nó thành đại lộ dành cho xe cộ lưu thông? Cũng như tháp Eiffel kia, thì nên quật ngay nó xuống, xé xác nó làm vật liệu sản xuất loại ly, cốc đặc chất sắt bổ ích cho sức khỏe, hơn là để nó cứ ngạo nghễ cao xa... Và còn biết bao sáng kiến nữa cũng chẳng kém phần phải lẽ, không sao kể xiết.
Mũi dùi
Mũi dùi Alphonse Allais liên tục châm chọc thẳng vào ba giới cầm quyền bấy giờ: linh mục, tượng trưng cho thần quyền; nhà binh, tượng trưng cho quân quyền; và chính khách, tượng trưng cho thế quyền. Cả ba giới này tuy hoàn toàn khác nhau về môi trường hoạt động, nhưng lại giống nhau ở chỗ cùng mang một mẫu số chung, cái mà ông gọi là la bêtise à front de taureau, là tật hung hăng ngu đần như bò (mộng).
Mấy sáng kiến cố tình dị hợm nhắc tới trên đây điển hình cho cái mà ngày xưa các cụ gọi là náo hí (ai dám bảo Đông Tây không bao giờ gặp nhau, ngoại trừ Rudyard Kipling, 1865-1936, và Lãng Nhân, ? - ?). Dị hợm, nhưng hợp lẽ, gián tiếp mà thật sự là trực tiếp đả kích kịch liệt bọn cầm quyền mù quáng chỉ biết có lợi ích riêng tư chẳng hề màng tới lợi ích chung của cộng đồng. Giữa hai cuộc trà dư, giữa hai cốc rượu, giữa hai câu hài hước, chỉ cần một nháy mắt là ông đã phanh thây xé xác bọn con rối làm hề trên trường đời, xì hơi đủ loại bong bóng thổi phồng mà mắt thiên hạ, đạp đổ thứ thiên đàng hư ảo do hạng thày bói ba hoa hứa hươu hứa vượn...
Để đạt tới mục đích đó, ông chẳng ngại ứng dụng mọi thủ thuật ngôn từ và ngữ nghĩa có sẵn trong tay để truy lùng, sát phạt bọn họ bằng tiếng cười độc địa, chua cay - khiến họ chẳng tài nào chống đỡ, tự vệ nổi - nói chi tới tìm cách trả đũa. Hoạ chăng là có thể trách ông không gọt dũa câu văn, không mài trơn tiếng nói, và nhất là quá ư tức thời cơ hội, bất thần chĩa mũi dùi đánh phủ đầu khiến cho đối tượng chẳng tài nào kịp thời phản ứng, phải lép vế chịu thua.
Riêng độc giả thì lại hoan nghênh, hằng ngày đón đợi ông như một vị cứu tinh đơn thương độc mã đương đầu với bọn người ấy trên báo chí xem như một đấu trường.
100 năm
Một trăm năm tròn đã qua từ khi Alphonse Allais trút hơi thở cuối cùng, vậy mà tiếng cười giòn giã của ông vẫn còn vang dội đâu đây như không thể phai mờ. Một là vì, so với các nhà văn nối nghiệp ông như Tristan Bernard (1866-1947), Sacha Guitry (1885-1957), Pierre Dac (1893-1975)... chẳng hạn, ông ăn đứt họ; hai là vì tiếng cười của ông thuộc loại phi thời gian và, gọt bớt những sần sùi bên ngoài, hàm chứa nhiều ý nghĩa đại đồng.
Paris, 4/9/2005
|